American Society of Reproductive Medicine (ASRM) – Hiệp hội Y học sinh sản Hoa Kỳ năm 2020 đã có cuộc họp thường niên lần thứ 76. Điểm đặc biệt của năm nay phải kể đến đầu tiên, đó chính là diễn ra trên nền tảng online, tổ chức trực tuyến để thích ứng với tình hình dịch bệnh Covid-19.

Dù diễn ra online nhưng tinh thần của các báo cáo nghiên cứu, và các báo cáo viên diễn ra sôi nổi, đầy tính xây dựng với sự trình bày của nhiều chủ đề có tính mới và có ý nghĩa đáng chú ý.

Mời các bác sĩ, chuyên viên phôi học cùng các anh chị đang hoạt động trong lĩnh vực Hỗ trợ sinh sản hãy cùng Intesco cập nhật hoạt động của ASRM 2020 qua bài viết này, được trích lược nội dung từ Những Suy ngẫm và Phản hồi của các thành viên Vitrolife về các chủ đề tại ASRM 2020.

asrm-2020-1-virtual

NỘI DUNG CỦA ASRM 2020 QUA SUY NGẪM – PHẢN HỒI CỦA VITROLIFE

Continue reading →


Trong lĩnh vực IVF – Thụ tinh trong ống nghiệm, ESHRE – viết tắt của Hiệp hội sinh sản và và phôi học châu Âu, thành lập năm 1984, được xem là một tổ chức uy tín nhất về IVF trên toàn thế giới với các hội nghị thường niên, và hội nghị chuyên ngành mang lại nhiều kiến thức bổ ích, nơi hội tụ của các chuyên gia đến từ nhiều quốc gia đang thực hành IVF. Một tiêu chuẩn của ESHRE khi được đưa ra, đến từ sự đồng thuận qua nhiều phiên làm việc, của nhiều chuyên gia dày dặn kinh nghiệm tại các trung tâm, bệnh viện, và các phòng lab nuôi cấy IVF trên toàn thế giới.

Nhận thấy tầm quan trọng và kiến thức hữu ích đến từ Bộ Tài liệu Hướng dẫn của ESHRE, và cho rằng đây là những điều có thể giúp ích cho cho các trung tâm IVF tại Việt Nam nói chung, và các khách hàng của Intesco nói riêng. Chúng tôi lược dẫn những nội dung này, gửi đến các anh chị đang thực hành tại các trung tâm IVF để tham khảo.

eshre-hướng-dẫn-thiết-kế-lab-ivf-hiệu-quả-intescoHƯỚNG DẪN TỪ ESHRE: TIÊU CHUẨN 1 LAB IVF

Về mặt thiết kế phòng lab IVF

Theo ESHRE, phòng lab IVF phải có đầy đủ chức năng để giảm thiểu bất kỳ tác động gây hại nào đến các tế bào sinh sản và đảm bảo việc thực hiện hiệu quả các quy trình tại lab. Lab IVF phải liền kề với phòng thủ thuật, nơi thực hiện các thao tác lâm sàng.

Khi bắt đầu vận hành một lab IVF, cần xem xét cập nhật những thông tin gần đây nhất về cơ sở vật chất, thiết bị và quy trình lab. Chú ý để mang đến sự thoải mái cho người làm việc tại lab, để cung cấp một môi trường an toàn, giảm thiểu nguy cơ mất tập trung, mệt mỏi mà từ đó sẽ dẫn đến sai sót trong khi làm việc gây ảnh hưởng đến trung tâm.

Áp dụng các quy định các yêu cầu về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp tại địa phương, quốc gia và châu Âu, bao gồm cả quy định chiều cao băng ghế, chuẩn bị ghế có thể điều chỉnh độ cao, có khoảng không gian làm việc phù hợp cho từng người, để ý chiều cao tầm mắt của kính hiển vi, không gian và bề mặt thao tác để làm việc có hiệu quả, môi trường đủ ánh sáng và có điều hòa không khí với nhiệt độ và độ ẩm được kiểm soát.

Cụ thể tiêu chuẩn như sau:

  1. Vật liệu được sử dụng trong việc xây dựng, sơn, làm sàn phòng thí nghiệm IVF và đồ nội thất phải phù hợp với tiêu chuẩn phòng sạch, tối thiểu được mức giải phóng VOCs và các độc tố gây hại đến phôi
  2. Thiết kế của phòng lab nên đảm bảo sao cho quy trình làm việc tối ưu về khoảng cách giữa các không gian làm việc của người thao tác, trong suốt quá trình thao tác với các tế bào trứng/tinh trùng/phôi
  3. Phòng lab nên hạn chế việc tiếp cận, chỉ dành cho những người có nhiệm vụ.
  4. Cần có một hệ thống hệ thống để nhân viên và các vật liệu được vệ sinh sạch sẽ trước khi đưa vào phòng thí nghiệm.
  5. Phòng thay quần áo phải tách biệt với phòng thí nghiệm.
  6. Các phương tiện rửa tay nên được đặt bên ngoài phòng thí nghiệm.
  7. Ngăn cách phòng làm việc hành chính đặt bên ngoài và ngăn cách với phòng thí nghiệm,
  8. Cần có một không gian trong phòng thí nghiệm như tủ hood để phục vụ cho việc hút các chất cố định mùi như vecni, chất phủ sơn, hay các hóa chất độc hại từ nhựa và bao bì
  9. Khu vực làm sạch và khử trùng vật liệu (nếu có) phải tách biệt với phòng thí nghiệm.

Về trang bị các Thiết bị phòng thí nghiệm theo tiêu chuẩn của ESHRE

Theo Bộ tiêu chuẩn của ESHRE, một phòng lab IVF cần chuẩn bị các trang thiết bị phù hợp các tiêu chí sau:

  • Phòng thí nghiệm cần có tất cả các vật dụng cần thiết cho IVF, với số lượng phù hợp với khối lượng công việc.
  • Số lượng tủ ấm rất quan trọng và phải dựa trên số chu kỳ và thời gian nuôi cấy phôi. Các giao tử và phôi phải được phân bố thuận tiện trong tủ ấm để giảm thiểu tối đa nhất có thể việc mở cửa tủ.

“Tủ cấy Benchtop IVFtech Incubator tại Intesco với nhiều tính năng đáp ứng tiêu chí đảm bảo ổn định nhiệt độ trong quá trình nuôi cấy, mang lại sự linh hoạt và sự tiện lợi tuyệt vời cho người sử dụng. Nhỏ hơn, an toàn hơn và được cá nhân hóa hơn bất kỳ tủ cấy nào có trên thị trường hiện nay. Hệ thống cung cấp khí riêng lẽ cho từng buồng nuôi tạo nên một môi trường nuôi cấy an toàn cho sự phát triển của phôi. Nhiệt độ cũng được kiểm soát  độc lập ở mỗi buồng nuôi với độ chính xác ± 0.1 ℃”

  • Trang thiết bị phải đầy đủ cho công việc tối ưu của phòng thí nghiệm, dễ khử trùng và dễ để giữ cho sạch sẽ để tránh nhiễm bẩn.
  • Tất cả các thiết bị phải được công nhận trước hết là phù hợp đối tượng sử dụng, việc có phù hợp hay không đến từ việc thiết bị đó đã được chuẩn hóa bằng các dụng cụ đo đạc được hiệu chuẩn. Thiết bị tốt nhất là nên được dán nhãn CE – nhãn chứng nhận cho một sản phẩm đạt chuẩn đến từ liên minh châu Âu
  • Các chai chứa khí phải được đặt bên ngoài phòng thí nghiệm. Cần có hệ thống thay tự động và dự trữ khí để thay thế ngay lập tức để đảm bảo an toàn cho hoạt động của lab. Khuyến khích sử dụng khí có độ tinh khiết cao và các bộ lọc HEPA và lọc VOC trong hệ thống ống lưu thông khí như CODA inline.
  • Việc kiểm tra, hiệu chuẩn, bảo trì và sửa chữa thiết bị đều phải được lập thành văn bản và lưu trữ hồ sơ để theo dõi
  • Cần lắp đặt các thiết bị gia nhiệt (heating device) để duy trì nhiệt độ của môi trường làm việc với các giao tử trong suốt quá trình thao tác và xử lý mẫu, như buồng thao tác (IVF Chamber), tủ thao tác (IVFTech), tấm gia nhiệt cho kính ICSI. IVF-chamber-unica-intescoIVF Chamber Unica đang được cung cấp tại Intesco. Xem chi tiết ⇐
  • Phải xác định và ghi nhận lại tất cả các thông số đo lường của hệ thống thiết bị. Nếu các thông số đo lường nằm ngoài phạm vi chấp nhận, cần tiến hành hiệu chỉnh và xác định ảnh hưởng của thông số ngoài phạm vi đó.
  • Đối với mọi hạng mục của thiết bị, cần có hướng dẫn sử dụng chi tiết và các hướng dẫn ngắn gọn đặt ở dễ lấy nếu cần.
  • Thiết bị đang bị trục trặc phải được dán nhãn là “Không sử dụng” để tránh việc nhầm lẫn.
  • Các hạng mục thiết bị quan trọng, bao gồm cả tủ cấy và các tủ bảo quản lạnh, phải được theo dõi liên tục và trang bị hệ thống báo động.
  • Phải có hệ thống điện dự phòng khẩn cấp, tự động cho tất cả các thiết bị quan trọng. Ví dụ như các UPS tích trữ điện, cần phải luôn được chuẩn bị trong lab.

Intesco gợi ý đến quý khách hàng thêm bài viết về Phương án xử lý nồng độ VOCs để đảm bảo chất lượng không khí cho lab IVF 

Các phương tiện, dụng cụ sử dụng trong hoạt động bảo quản lạnh

Bao gồm các điều quy định và cân nhắc như:

  • Các thiết bị và dụng cụ dùng cho hoạt động bảo quản lạnh  phải được bố trí hợp lý và an toàn bên ngoài nhưng gần phòng thí nghiệm và có thể nhìn thấy từ bên trong (ví dụ qua cửa sổ, máy ảnh) vì lý do an toàn.
  • Cần lắp đặt hệ thống thông gió thích hợp và báo động nồng độ oxy thấp. Khuyến nghị dùng báo động cá nhân về nồng độ ôxy thấp như một biện pháp an ninh bổ sung.
  • Các cryotank, thùng trữ lạnh phải được theo dõi liên tục và được trang bị hệ thống cảnh báo, phát hiện bất kỳ nhiệt độ và/hoặc mức ni tơ lỏng (LN2) nằm ngoài phạm vi.
  • Nên sử dụng các thiết bị bảo vệ (ví dụ: kính, tấm che mặt, kính bảo hộ, tạp dề, giày dép) trong quá trình xử lý, thao tác với ni tơ lỏng
  • Tất cả nhân viên xử lý với ni tơ lỏng phải được đào tạo về các khía cạnh an toàn khi sử dụng

Những tiêu chí để có thể THIẾT KẾ 1 LAB IVF CHUẨN  THEO HƯỚNG DẪN CỦA ESHRE được trích lược từ Intesco, hy vọng sẽ có thể mang đến hữu ích cho các trung tâm IVF.

“Intesco thành lập từ những năm 2003, với 18 năm hoạt động, có có đội ngữ chuyên gia, với kinh nghiệm phục vụ nhiều trung tâm IVF tại Việt Nam như Từ Dũ, Phụ Sản Quốc Tế, Vạn Hạnh, An Sinh, Phụ sản Bình Dương, Hùng Vương, Trung ương Huế, Đa khoa Bình Định, Bệnh viện Bưu Điện, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Bệnh viện Phụ sản Trung ương.

Chúng tôi luôn sẵn sàng tư vấn từ các khâu thiết kế đến trang bị các thiết bị phù hợp, cho quý khách hàng có nhu cầu tái thiết lại trung tâm IVF, hay xây sửa, nâng cấp hệ thống lab IVF.”

⇒ Liên hệ với Intesco qua:

Email: contact_us@intesco.com.vn

Điện thoại: 093 248 7777

Địa chỉ: A44 Nguyễn Trãi, p.Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, TP Hồ Chí Minh 

  • Vào tất cả các ngày Thứ hai đến Thứ sáu hàng tuần từ 8h đến 17h30
  • Với các Hỗ trợ kỹ thuật, đội ngũ Intesco hỗ trợ 24/7.

Biên tập: Trang Thanh Nhã – Intesco

Tham khảo: ESHRE – Guidelines for good practice in IVF laboratories (2015)

Continue reading →


Có nhiều người hiện tại đang gặp khó khăn trong việc mang thai, họ tìm đến các biện pháp hỗ trợ của y học để giúp họ có thể thụ thai, trong đó có thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Kỹ thuật này thực sự đến thời điểm này như là một giải pháp giúp thay đổi số phận cuộc đời của họ. Chúng ta không phủ nhận điều này, tuy nhiên tỉ lệ thành công chỉ khoảng 30%, tức là 10 trường hợp thực hiện thì sẽ giúp đậu thai 3 trường hợp.

Điều này đã tạo động lực cho một số nhà nghiên cứu tại Bệnh viện phụ nữ và Brigham cùng Bệnh viên đa khoa Massachusetts phát triển hệ thống trí tuệ nhân tạo nhằm mục tiêu cải tiến tỉ lệ thành công của IVF thông qua việc giúp các chuyên viên phôi học chọn lựa phôi một cách khách quan, tức không bị ảnh hưởng bởi con người mang tính chủ quan, để chọn ra những phôi có khả năng phát triển thành những em bé khỏe mạnh.

Họ đã thực hiện như thế nào?

Sử dụng hàng ngàn ví dụ hình ảnh phôi và trí tuệ nhân tạo học tập sâu (deep-learning AI), nhóm nghiên cứu đã phát triển được một hệ thống có khả năng phân biệt và nhận ra các phôi có tiềm năng thành công cao nhất, tốt hơn đáng kể so với 15 chuyên viên phôi học giàu kinh nghiệm đến từ 5 trung tâm hỗ trợ sinh sản khác nhau trên khắp nước Mỹ. Kết quả nghiên cứu của họ đã được công bố trên tạp chí eLife.

Chủ nhiệm nghiên cứu, tiến sĩ Hadi Shafiee thuộc phòng Kỹ thuật Y khoa chia sẻ:

“Chúng tôi có niềm tin rằng những hệ thống như thế này sẽ mang lại lợi ích rất nhiều cho những chuyên viên phôi học và cả bệnh nhân, bởi trong quá trình IVF, thử thách lớn nhất cho các chuyên viên phôi học chính là đưa ra quyết định sẽ chuyển phôi nào cho bệnh nhân.”

Hiện nay, các công cụ đang có để cho các chuyên viên phôi học sử dụng còn hạn chế và khá đắt đỏ, và hầu hết mọi người phải dựa vào kỹ năng quan sát và chuyên môn. Shafiee và đồng nghiệp của mình đang phát triển một công cụ hỗ trợ, có thể đánh giá được những hình ảnh chụp trên kính hiển vi truyền thống đang có tại trung tâm.

Đồng tác giả, tiến sĩ Charles Borman, Giám đốc phòng Lab IVF bệnh viện đa khoa Massachusetts cho biết:

“ Trong mỗi chu kỳ IVF, bệnh nhân của chúng tôi đối mặt với nhiều nguy cơ. Các chuyên viên phôi học đưa ra hàng tá quyết định quan trọng, ảnh hưởng đến thành công trong chu kỳ của bệnh nhân. Với sự hỗ trợ của hệ thống AI, đã giúp chuyên viên phôi học chọn lọc được các phôi mang lại kết quả đậu thai thành công tốt hơn nhiều so với trước đây”

Nhóm nghiên cứu đã huấn luyện hệ thống AI bằng cách sử dụng những hình ảnh phôi được chụp ở thời điểm 113 giờ sau khi thụ tinh. Trong số 742 phôi, hệ thống AI đạt độ chính xác 90% ở việc chọn lựa ra các phôi có chất lượng cao nhất.

Các nhà khảo sát đã thực hiện các đánh giá xa hơn hệ thống AI, trong việc phân biệt trong số phôi có chất lượng cao với số lượng nhiễm sắc thể bình thường, và thực hiện so sánh giữa hiệu suất đánh giá của hệ thống AI và hiệu suất của các chuyên viên phôi học được đào tạo. Kết quả, hệ thống đánh giá chính xác trong khoảng 75%, trong khi các chuyên viên phôi học là 67%.

Các tác giả cho biết trong giai đoạn hiện tại này, hệ thống chỉ dự định được sử dụng như một công cụ hỗ trợ các chuyên viên phôi học đưa ra các phán đoán trong quá trình lựa chọn phôi.

Manoj Kumar Kanakasabapathy, một trong các tác giả cho biết:

“ Hướng tiếp cận của chúng tôi đã cho thấy tiềm năng của hệ thống AI được sử dụng trong việc hỗ trợ các chuyên viên phôi học chọn lựa được phôi có tỉ lệ làm tổ cao nhất, đặc biệt là trong số các phôi có chất lượng cao”.

Nắm bắt được xu hướng của thế giới, đưa trí tuệ nhận tạo vào lĩnh vực IVF, Intesco có buổi tọa đàm online về việc áp dụng Trí tuệ nhân tạo vào Đánh giá chất lượng tinh dịch cùng các chuyên gia tại Việt Nam và thế giới. 

Kính mời các bác sĩ và chuyên viên phôi học quan tâm đón xem, hứa hẹn sẽ mang lại nhiều thông tin bổ ích. Chi tiết vui lòng xem tại Đây.

Biên tập: Trang Thanh Nhã – Intesco

Tham khảo:

Bormann, C.L., et al. (2020) Performance of a deep learning based neural network in the selection of human blastocysts for implantation. eLife. doi.org/10.7554/eLife.55301.

Tin cùng chuyên mục:

 

 

 


Trước khi đi thăm khám, hầu hết các cặp vợ chồng hiếm muộn đều đặt rất nhiều câu hỏi và tìm kiếm câu trả lời trước khi đưa ra quyết định sẽ đến thăm khám tại đâu. Điều đó đồng nghĩa có rất nhiều yếu tố tác động đến quyết định trung tâm nào bệnh nhân sẽ chọn lựa.

3 Câu hỏi được tìm kiếm nhiều nhất của các bệnh nhân, đó là:

  • Điều trị hiếm muộn ở đâu tốt nhất?
  • Khám hiếm muộn bác sĩ nào?
  • Trung tâm A, B, C có tốt không?

Bệnh nhân quan tâm đến chất lượng của một trung tâm, thể hiện qua những điều họ quan sát và cảm nhận được.

“Làm thế nào để tôi kiểm tra được chất lượng của một trung tâm điều trị hiếm muộn?” 

Trong tất cả các trường hợp, chuẩn bị thành lập trung tâm, trung tâm mới vừa thành lập, hay trung tâm đã tồn tại trước đó. Việc tạo lập được niềm tin trong lòng bệnh nhân không những giúp trung tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ phát triển, cũng là điều kiện tiên quyết để dẫn đến tỉ lệ thành công trong quá trình điều trị. 

Bài viết này, Intesco sẽ tổng hợp 7 điều tác động đến bệnh nhân khi quyết định chọn thăm khám tại một trung tâm IVF 

1. Trang web của bệnh viện/trung tâm

Theo Tiến sĩ Tiến sĩ Claudia Mika – Giám đốc Cơ quan Kiểm định Temos International, chuyên cung cấp các Chứng nhận Chăm sóc sức khỏe sinh sản hiếm muộn, có trụ sở tại Đức, một cổng thông tin giao tiếp có thể tiếp cận được dễ dàng là điều không thể thiếu của một trung tâm dù là mới thành lập hay đã tồn tại lâu. Trong kỷ nguyên internet như hiện nay, chúng ta phải công nhận rằng ấn tượng đầu tiên là điều không nên đánh giá thấp

Một trang web xây dựng theo hướng thân thiện với khách hàng là điều nên làm. Đồng thời, thông tin minh bạch là điều quan trọng nhất, bao gồm các thông tin, dữ liệu về các dịch vụ trung tâm có cung cấp, chi phí (cả chi phí bổ sung nếu có), các gói dịch vụ mà trung tâm đang có, hay các dịch vụ hay đang sắp được triển khai. Những lời chứng thực của bệnh nhận là vô cùng hữu ích, tuy nhiên phải xác định rằng sẽ không thực hiện được ở các nước vì lý do pháp lý. Tiến sĩ gợi ý một cách hữu ích để truyền đạt thông tin về các hỗ trợ và dịch vụ là thông qua các mạng xã hội.

Ngoài ra, tiến sĩ Mika cũng có nhắc đến việc cảm nhận riêng của các bệnh nhân. Các bệnh nhân sẽ có thể quan sát và kiểm tra đánh giá một trung tâm thông qua những ấn tượng nhỏ được xem là tiêu chuẩn cao của riêng bệnh nhân như thái độ giao tiếp niềm nở, vui vẻ, tích cực, hoặc nhân viên có thể giao tiếp được bằng các ngôn ngữ khác

2. Các tuyên bố sứ mệnh – slogan của bệnh viện, trung tâm IVF

Điều các bệnh nhân tìm kiếm trong các tuyên bố sứ mệnh có thể là tính nhân văn của trung tâm, sự tôn trọng, sự quan tâm đến bệnh nhân từ trước trong và sau khi điều trị. Tuy nhiên, quan trọng là cách trung tâm giao tiếp với bệnh nhân và tác động đến cảm nhận bên trong của bệnh nhân. Các tuyên bố sứ mệnh nên được nêu rõ ràng trên trang web và các phương tiện truyền thông. Tuyên bố sứ mệnh tác động đến ấn tượng của bệnh nhân, sâu hơn là từ sứ mệnh sẽ định hướng đến phong thái và tôn chỉ của trung tâm.

3. Thời gian xử lý

Bên cạnh nên có một cổng thông tin dễ dàng tiếp cận, thì thời gian phản hồi của trung tâm, bệnh viện cũng là yếu tố tác động đến quyết định của bệnh nhân. Khoảng thời gian mà tiến sĩ Mika gọi là “Thời gian trôi”- tính từ lúc có sự tương tác đầu tiên đến buổi gặp mặt tiếp theo giữa bệnh nhân và trung tâm. Bệnh nhân sẽ có những đánh giá và cảm nhận của riêng họ thông qua việc họ có phải chờ đợi quá lâu để nhận được phản hồi; có ai liên lạc với bệnh nhân để tương tác với những thắc mắc của họ hay không; Bệnh viên hay trung tâm đó chỉ trả lời qua email hay có cá nhân trực tiếp liên hệ; Trung tâm có tư vấn về kế hoạch điều trị hay không; Trung tâm thông báo như thế nào đến bệnh nhân về ước tính chi phí điều trị, dịch vụ đi kèm, chi phí đi lại, vận chuyển, chỗ ở, trước và sau khi họ bắt đầu đi đến trung tâm… 

Có một điều chắc chắn rằng, sự lựa chọn sẽ được đưa ra chỉ khi nào bệnh nhân đã giải đáp hết các thắc mắc, với niềm tin đầy đủ và sự chuẩn bị sẵn sàng 100% từ phía bệnh nhân, thì mới có quyết định cuối cùng, chọn trung tâm IVF nào để khám và điều trị hiếm muộn.

4. Trình độ và kinh nghiệm của nhân viên tại trung tâm IVF

Niềm tin của bệnh nhân còn đến từ trình độ đào tạo và kinh nghiệm của đội ngũ y tế. Ngày nay, khi internet phát triển, các bệnh nhân trước khi tìm đến được một bác sĩ có chuyên môn, họ sẽ tham khảo những thông tin về bác sĩ từ các phương tiện thông tin đại chúng có thể tiếp cận, để chọn đúng y bác sĩ phù hợp với nhu cầu cá nhân và tiền sử bệnh của họ.

Trên tất cả, bệnh nhân là người hiểu rõ nhu cầu của họ, vì thế, hiển thị thông tin trên các trang web của trung tâm về trình độ chuyên môn, năng lực điều trị, kinh nghiệm điều trị của y bác sĩ, đặc biệt ngày nay bệnh nhân còn quan tâm đến các tuyên bố cá nhân của y bác sĩ đối với bệnh nhân, các nghiên cứu, đóng góp, vị trí của bác sĩ trong các tổ chức có uy tín làm cơ sở cho sự lựa chọn của mình.

Nếu như trước kia bệnh nhân chưa biết nhiều đến vai trò của chuyên viên phôi học – người nuôi phôi, thì giờ đây, bệnh nhân còn quan tâm đến trình độ và năng lực của họ, đặc biệt là người đứng đầu của lab IVF. Do đó, bệnh nhân ngoài việc thắc mắc về bác sĩ, còn thắc mắc về trình độ chuyên môn của chuyên viên phôi học khi họ xem thông tin trên web. Tìm kiếm một trung tâm có thiết bị công nghệ cao giúp được bệnh nhân tăng kết quả điều trị là điều bệnh nhân hoàn toàn tin tưởng và đang diễn ra hiện nay, tuy nhiên những người đứng sau các thiết bị tinh vi cũng là điều bệnh nhân quan tâm.

5. Các khía cạnh về công nghệ, kỹ thuật đang sử dụng tại bệnh viên, trung tâm IVF

Bệnh nhân luôn mong muốn biết được các công nghệ, kỹ thuật hiện có tại một trung tâm, điều này làm tăng khả năng lựa chọn của họ, giúp họ xác định được trung tâm có đáp ứng được mong đợi hay không. Các thiết bị, công nghệ đầy đủ, có thể phục vụ cho các kỹ thuật từ thấp đến cao luôn được bệnh nhân xem xét để phục vụ cho quá trình điều trị thuận lợi của họ. Các tiêu chuẩn về clean room – phòng sạch, quản trị chất lượng, an toàn bảo mật, quyền được quan sát quy trình thao tác, họ muốn biết điều gì xảy ra với những thứ họ cung cấp cho trung tâm, những điều này hiện nay đã trở nên phổ biến, bệnh nhân quan tâm và có nhu cầu tìm thấy các thông tin này, để họ tin tưởng trong quá trình đưa ra quyết định.

Xem thêm:

6. Khía cạnh lâm sàng

Song song với việc tìm kiểm các yếu tố về kỹ thuật, trình độ, thì khía cạnh kết quả lâm sàng lại là một điều bệnh nhân sẽ dễ tìm kiếm hơn. Trên thực tế, kết quả lâm sàng là điều mà các bệnh nhân tiềm năng quan tâm nhất khi nghiên cứu về các bệnh viên, trung tâm khám và điều trị hiếm muộn. Theo tiến sĩ Mika, bà cho rằng, câu hỏi được đặt ra là Liệu trung tâm có giải thích tỉ lệ thành công theo một một cách có thể hiểu được hay không cho bệnh nhân tiềm năng. 

Bệnh nhân luôn muốn nhận được thông tin này rõ ràng, khiến họ có thể hiểu được và truy vấn lại được nguyên nhân của họ – Điều này có nghĩa là trung tâm nên nêu rõ được cách tính tỉ lệ thành công cụ thể ra sao (trong chuyển phôi tươi, chuyển phôi trữ, chuyển nhiều phôi), hoặc nếu có liên quan đến các thông tin về thai sinh hóa, thai lâm sàng, thai sinh sống. Khi bệnh nhân được thấy các thông tin này và được giải thích cặn kẽ, sẽ giúp bệnh nhân hoàn toàn thuyết phục, tin tưởng vào trình độ và các yếu tố khác của một trung tâm. Bởi trong thực tế, hầu hết các bệnh nhân thường xuyên đặt câu hỏi về tỉ lệ thành công của họ hoặc khi nhận được kết quả, họ mong muốn có một giải thích cặn kỹ để họ có thể truy vấn về vấn đề của họ.

7. Các chứng nhận về chất lượng

Các chứng nhận từ một bên thứ ba trung lập. Các chứng nhận đạt chuẩn chất lượng dành cho các bệnh viên, trung tâm IVF.

Các chứng nhận phải đến từ các cơ quan công nhận nghiêm túc, các tiêu chuẩn được đưa ra trong chứng nhận phải được đưa ra từ các chuyên gia có kinh nghiệm,uy tín phát triển và thường xuyên xem xét điều chỉnh, được kiểm định bởi những chuyên gia y tế có qua đào tạo kiểm định, họ trực tiếp đến tham quan trung tâm, tư vấn và kiểm tra tại chỗ. Đồng thời, cơ quan kiểm định phải được ủy quyền từ bên thứ ba, như Hiệp hội quốc tế về chất lượng sức khỏe sinh sản, Các cơ quan chức năng có thẩm quyền quốc gia

Đó có thể là chứng chỉ ISO cho phòng thí nghiệm, chứng nhận của ESHRE, hay một chứng nhận về Xuất sắc trong chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản từ phía Temos International. Trong các chứng nhận này, các trung tâm sẽ phải đạt các tiêu chuẩn được đưa ra của chứng nhận như Tiêu chuẩn quản lý chất lượng lab, Hệ thống quản lý dữ liệu về thông tin bệnh nhân, theo dõi tiến trình điều trị; Bệnh án điện tử được áp dụng tại trung tâm.

Tại Intesco, chúng tôi hỗ trợ các trung tâm một bước dài trong tiến trình đạt được các tiêu chuẩn này, bằng cách cung cấp một hệ thống quản lý trung tâm IVF được tạo ra từ các chuyên gia có chuyên môn, có kinh nghiệm trong lĩnh vực, trực tiếp khảo sát từ thực tế nhu cầu hiện tại và tiếp thu xu hướng quốc tế hóa của các trung tâm.

Tóm lại, tiến sĩ Mika nhấn mạnh việc bệnh nhân quan tâm đến sự chuyên nghiệp trong dịch vụ điều trị y khoa, kỹ thuật của phòng lab, và cả việc kết hợp thiết bị công nghệ kỹ thuật cao vào các dịch vụ. Tất cả chúng, có phù hợp với nhu cầu của bệnh nhân hay không, sẽ là yếu tố để bệnh nhân lựa chọn tại thời điểm quyết định – điều trị hiếm muộn ở trung tâm IVF nào.

Biên tập: Trang Thanh Nhã – Intesco

Tham khảo tại: myivfanswer.com

Continue reading →


Webinar :
🌀🌀🌀“Artificial Intelligence in Semen Analysis: The Dawn of a New Era” 🌀🌀🌀
🎤 Trình bày : GS. Ashok AgarwalPGS. Lê Minh Tâm.
Xin mời quý đồng nghiệp là các bác sĩ lâm sàng, bác sĩ nam khoa, chuyên viên phôi học, chuyên viên nghiên cứu và nhân viên y tế quan tâm tham gia, thảo luận và chia sẻ.
⏱ Thời gian: 21:00 giờ thứ Năm (17/12/2020).
💝 Với sự hỗ trợ phối hợp 3 bên, INTESCO hy vọng sẽ mang đến những thông tin thật sự quý giá và bổ ích.

Môi trường tối ưu để nuôi cấy phôi là một yếu tố vô cùng quan trọng, bởi nó giúp đảm bảo cho khả năng sống sót của phôi, từ đó duy trì được kết quả đậu thai ổn định. Môi trường tối ưu này được tạo nên từ nhiều yếu tố khác nhau, chẳng hạn như chất lượng không khí, nhiệt độ, ánh sáng, đây được xem là những yếu tố có ảnh hưởng đến trứng và phôi. Trong đó, đặc biệt là chất lượng không khí, là một yếu tố thường hay bị bỏ qua, không được để ý đến một khi tỉ lệ mang thai bắt đầu có dấu hiệu giảm. Thực sự, chất lượng không khí là yếu tố cực kỳ đáng được quan tâm nếu như không nói đây là một trong những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của phôi, cũng như là thành công chung của cả quy trình IVF.

Các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs) rất có hại cho phôi.

VOC là gì

Ngoài các chất gây ô nhiễm ngoài trời như khí thải xe máy, khí thải xe hơi, thì còn có các chất gây ô nhiễm trong nhà, được biết đến như là VOCs (Các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi), ví dụ như aldehyde và alcohol (cồn) là chất thường được tìm thấy trong lab IVF, bao gồm ethanol, isopropanol, formaldehyde, acetaldehyde, axetonitril, axeton, d-limonene và α-pinen.

VOC được giải phóng ra dưới dạng khí từ các vật liệu rắn và lỏng, là những vật liệu được sử dụng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện phòng lab (vật liệu làm sàn, các chất kết dính, sơn, chất để lấp các lỗ hổng, v.v.), các thiết bị phòng thí nghiệm, chất lỏng dùng để làm sạch, chất làm mát không khí, các đồ nội thất, mỹ phẩm, sáp wax sàn lab và khói thuốc lá, đó là một số chất, được kể tên ra đây.

VOC gây bất lợi cho quy trình thụ tinh ống nghiệm và sự phát triển của phôi. Ngoài ra, các phần tử bay lượn trong không khí dạng hạt như tế bào da, tóc, sợi vải, cũng là những nguyên nhân đáng để lo ngại vì vi sinh vật có thể bám vào các phần tử này.

Tại sao phải quản lý mức độ VOCs trong lab IVF

Đó là một yêu cầu bắt buộc

Việc sử dụng một hệ thống lọc không khí có thể lọc được cả các hạt trong không khí và VOC là điều bắt buộc trong một phòng lab IVF. Điều này đã được thể hiện trong bản đồng thuận Cairo về môi trường phòng lab IVF và chất lượng không khí được công bố vào tháng 6 năm 2018, đây là báo cáo của một buổi Expert Meeting trình bày kết quả từ buổi Expert Meeting quốc tế để nhằm thiết lập sự đồng thuận về các yêu cầu ở khía cạnh kỹ thuật và vận hành được khuyến nghị dành cho chất lượng không khí tại các phòng thí nghiệm ART (kỹ thuật hỗ trợ sinh sản) hiện đại.

Mang lại kết quả IVF cao khi giảm mức VOCs trong lab

Có hai trường hợp đã được công bố, một vào năm 2013 và một vào năm 2017, cho thấy các đánh giá lâm sàng liên quan đến IVF, cụ thể như tỷ lệ thụ tinh, phân chia phôi bào, tạo phôi nang và đậu thai, có thể được cải thiện bằng cách thực hiện các chiến lược giảm VOC. Thứ nhất, Khoudja và cộng sự (2013) đã bổ sung hệ thống lọc không khí nghiêm ngặt vào phòng thí nghiệm IVF của họ và quan sát thấy sự gia tăng đáng kể trong cả bốn thông số liên quan đến IVF trên . Trường hợp thứ hai, Agarwal và cộng sự (2017) thậm chí còn đi xa hơn, thay đổi đồ nội thất từ gỗ sang thép, sàn PVC thành epoxy và cồn thành dung dịch  của Oosafe. Hơn nữa, họ cấm nhân sự hút thuốc hoặc bôi nước hoa, xịt nước hoa, hoặc sử dụng mỹ phẩm trong phòng thí nghiệm và tránh các chất tẩy rửa dạng xịt, và chất tẩy rửa có gốc từ amoniac. Lắp kính Double-Shield để các phòng kín gió, ngăn không cho VOCs từ bên ngoài có điều kiện để làm ô nhiễm các phòng. Bằng cách tu sửa lại phòng thí nghiệm, họ đã tăng tỷ lệ hình thành phôi bào lên 18%, tỷ lệ mang thai thành công trên lâm sàng lên 10% và tỷ lệ sinh con sống của họ là 8%.

Ảnh hưởng của VOCs

Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) là một kỹ thuật phổ biến được các trung tâm hỗ trợ sinh sản sử dụng để thụ tinh cho trứng của người hiến tặng và cấy chúng trở lại vào người mẹ. Ngoài việc thực hiện IVF, các trung tâm cũng thường xuyên lưu trữ trứng, tinh trùng và phôi. Ngặt nỗi, việc thao tác, kiểm soát và bảo quản các tế bào này bên ngoài cơ thể người đồng nghĩa với việc là chúng sẽ tiếp xúc với nhiều loại chất ô nhiễm trong không khí, bao gồm các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC), mà các các chất này thì lại rất có hại cho phôi.

Trong quá trình tăng trưởng và phát triển của phôi, VOCs gắn trực tiếp vào DNA và làm dừng sự phát triển của phôi,  có những nhận xét cho thấy rằng ô nhiễm không khí ở từng đợt có liên quan đến việc gia tăng sự phân mảnh DNA của tinh trùng người, khi mà không có những thay đổi khác gì về chất lượng tinh dịch ở các lần kiểm tra. Nhiều nghiên cứu cũng đã ghi nhận rằng một lượng nhỏ VOCs lưu thông trong không khí của lab IVF có thể có tác động bất lợi đến tỷ lệ mang thai. Phôi được coi là tế bào cực kỳ thích nghi, nhưng việc tiếp xúc với VOC vẫn có thể gây ra những thay đổi trong biểu hiện và điều hòa gen, bao gồm cả những thay đổi các dấu ấn di truyền trong gen, và do đó có thể ảnh hưởng đến kết quả của một quy trình IVF (Khoudja và cộng sự, 2013).

Để làm giảm ảnh hưởng của VOCs, nguyên nhân tác động đến tỉ lệ thai, các lab IVF có thể liên hệ ngay với đội ngũ của Intesco, để được tư vấn chiến lược phù hợp, để kiểm tra và làm giảm nồng độ VOC trong lab hiệu quả.

10 khía cạnh chúng ta cần cân nhắc, để quyết định chiến lược phù hợp xử lý tình trạng VOCs tăng cao tại lab IVF của mình

1.Bộ lọc HEPA và CODA

Phần lớn các chất gây ô nhiễm trong không khí xâm nhập vào phòng thí nghiệm có thể được loại bỏ bằng cách sử dụng bộ lọc không khí dạng hạt (HEPA) đạt chất lượng cao. Các bộ lọc này sẽ loại bỏ bất cứ thứ gì nhỏ đến 0,3 micro mét. Hệ thống lọc khí bằng than hoạt tính (CODA), CODA in-line, có thể được sử dụng cùng với bộ lọc HEPA để loại bỏ hydrocacbon khỏi tủ ấm, đường dẫn khí và tất cả các không gian làm việc, thao tác trong lab IVF.

2. Phân chia thành các phòng riêng biệt

Ngăn cách luồng không khí của phòng thí nghiệm IVF khỏi phòng thủ thuật bằng cửa sổ hai cánh có tấm đệm đặt giữa hai phòng, hay còn gọi là pass-box, để duy trì áp suất dương cần thiết, lọc không khí và ngăn sự di chuyển của VOC từ phòng này sang phòng khác. Việc tách tất cả các phòng khác khỏi phòng lab IVF, như phòng chứa các chai khí, phòng lưu trữ mẫu, phòng làm việc với giấy tờ, phòng họp và phòng chẩn đoán, tư vấn, cũng rất cần thiết để ngăn ngừa ô nhiễm cho lab.

3. Sử dụng sơn không chứa VOC

Sơn có thể chứa chất formaldehyde, nhưng nếu nồng độ nhỏ hơn 0,1% đến 1%, tùy thuộc vào nhà sản xuất, thì nó có thể không được liệt kê là một thành phần trong hỗn hợp, tuy nhiên nó vẫn có chứa. Vì thế, tốt nhất là sử dụng sơn chuyên dụng, được đảm bảo không chứa VOC, không bổ sung các chất màu.

4. Sử dụng đồ nội thất

Đồ nội thất bằng gỗ, nếu có sử dụng, có thể chứa chất kết dính, có thể thải ra chất formaldehyde vào không khí, trong các đồ gỗ này, bao gồm cả đồ nội thất được đánh vecni, phủ gel shellac hoặc được phủ sơn, cũng đều có thể là những nguồn VOC. Trong lab IVF, các đồ nội thất bằng thép trước khi đưa vào sử dụng, sẽ được rửa sạch trước, bằng isopropanol và xả khí (tức là được xả ra ngoài trong vài ngày ở trong một phòng riêng), là một giải pháp tốt vì nó sẽ giải phóng nồng độ VOC thấp hơn là khi không làm. Nếu đồ nội thất cần bôi trơn làm bóng, thì nên sử dụng chất bôi trơn gốc silicone.

5. Đồ nhựa cần loại bỏ khí trước khi sử dụng

Hầu hết đồ nhựa trong lab, như đĩa Petri và đầu tip pipet, được làm bằng polystyrene, có thể giải phóng styrene, là một dạng VOC có khả năng gây hại. Để cho các dụng cụ bằng nhựa thoát khí trước khi sử dụng là điều cần thiết để ngăn chặn styren lây nhiễm sang quá trình cấy phôi. Để làm điều này, thì chúng ta hãy mở bao của dụng cụ bằng nhựa ra và để nó thông hơi trong một căn phòng khác không phải là phòng lab IVF, tốt nhất là để nó vào một laminar flow (laminar flow hood), như IVFtech.

6. Cài đặt và bảo trì tủ ấm

Giữ cho tủ ấm không có VOC là cực kỳ quan trọng, vì tủ ấm bị ô nhiễm có thể ảnh hưởng đến các lần nuôi cấy phôi. Giống như đồ nhựa, tủ ấm phải được loại bỏ khí và mọi sửa chữa hoặc bảo dưỡng cũng phải được thực hiện với các sản phẩm có mức VOC thấp hoặc không có khí. Để giảm mức độ tổng thể của VOCs đi qua tủ ấm hàng ngày, nên sử dụng các bộ lọc cho đường thông khí giữa bình chứa khí và tủ ấm như các CODA inline, cũng như là sử dụng các khí không có VOC. Việc sử dụng tủ ấm có thể xả không khí xung quanh ra khỏi tủ ấm và thay thế bằng khí từ các hệ thống khí hoặc bình khí, cũng đảm bảo được nguồn ô nhiễm VOC đã được giới hạn lại, duy nhất chỉ trong bình khí, hệ thống khí hoặc các bộ lọc in-line của đường thông khí, chứ không phải là từ môi trường của cả phòng lab.

7. Sử dụng các nhãn và các loại bút ghi chú không có VOC

Nếu phòng lab có sử dụng các nhãn, hay các bút để ghi chú cho các cọng rạ – straw, cane trữ, hộp trữ, cassette, cryotop và các thiết bị khác, hãy đảm bảo rằng chúng đã được kiểm tra VOC.

8. Không sử dụng thuốc lá, mỹ phẩm, nước hoa hoặc các dạng sản phẩm có mùi hương

Tất cả bốn thứ này đều thải ra một lượng VOC đáng kể. Ngay cả khói còn sót lại khi thoát ra khỏi phổi ở những người có hút thuốc lá, cũng có thể giải phóng đủ VOC để ảnh hưởng đến phôi thai. Do đó, chúng tôi khuyến nghị rằng lab IVF nhất thiết phải là một lab không khói thuốc, mỹ phẩm, nước hoa và mùi hương.

9. Các sản phẩm tẩy rửa và làm sạch không chứa VOC

Mặc dù ethanol (cồn) là chất khử trùng được lựa chọn trong hầu hết các phòng thí nghiệm, nhưng nó cũng được coi là chất VOC mạnh và gây độc tố cho phôi. Các hóa chất có thể được sử dụng để thay thế cho etanol bao gồm dung dịch natri hypoclorit pha loãng – dạng bleach sát trùng tẩy trắng, hydrogen peroxide, hay các sản phẩm thương mại của Oosafe.

10. Kiểm tra và theo dõi mức VOC trong lab

Hầu hết VOC có thể được phát hiện bằng sắc ký khí hay sắc ký khí khối phổ, hoặc dùng máy dò quang hóa có thể có được cảm nhận chung về mức độ VOC trong phòng thí nghiệm; chúng không thể phân biệt giữa các VOC. Tuy nhiên, kiểm soát và theo dõi mức độ khí trong lab vẫn nên được đảm bảo bằng cách sử dụng các thiết bị theo dõi khí chuyên biệt cho lab IVF.

Intesco có nhiều năm kinh nghiệm trong tư vấn, cung cấp các sản phẩm, thiết bị lọc khí cho các phòng lab IVF tại Việt Nam ngay từ những ngày đầu. Hãy liên hệ Intesco để được tư vấn các chiến lược phù hợp, đảm bảo chất lượng khí tốt nhất cho lab của anh chị.

Tóm lại, đã có nhiều bằng chứng, chứng minh rằng chất lượng không khí rất quan trọng đối với sự thành công của IVF vì sự hiện diện của các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC), vi khuẩn và nước hoa, tất cả đều có thể gây hại cho sự phát triển của phôi trong ống nghiệm. Do đó, các phòng thí nghiệm IVF được trang bị các thiết bị làm sạch không khí dạng hạt như các màng lọc HEPA, hay các bộ lọc than hoạt tính, cộng với tạo áp suất dương để kiểm soát các phần tử dạng hạt trong không khí, như sử dụng hệ thống CODA và các CODA inline trong các đường ống lưu thông khí tại các phòng lab IVF, và nhiều thiết bị để kiểm soát, hỗ trợ, với mục đích cuối cùng để làm tăng hiệu quả quy trình IVF cho các trung tâm hỗ trợ sinh sản.

Biên tập: Trang Thanh Nhã – Intesco

Nguồn: vitrolife, labtag

Gợi ý cập nhật thêm các nội dung có thể có ích:

 

 


Tờ báo News-Medical đã có cuộc trò chuyện với Giáo sư Natan Shaked về kỹ thuật mới của ông cho tế bào tinh trùng có thể được sử dụng để giúp cải thiện kết quả phương pháp điều trị IVF.

Mời các anh chị đang làm việc tại các trung tâm IVF cùng tìm hiểu buổi trò chuyện của giáo sư để biết được điều gì mà ông mang đến cho lĩnh vực này, Intesco tin rằng điều này sẽ vô cùng thú vị dành cho các lab IVF.

Cuộc phỏng vấn đã được thực hiện vào ngày 22 tháng 5 năm 2020

NỘI DUNG BUỔI TRÒ CHUYỆN: CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG ĐIỀU TRỊ IVF BẰNG KỸ THUẬT  ỨNG DỤNG TRÊN TINH TRÙNG VÔ CÙNG MỚI MẺ

Câu hỏi 1: Tại sao ngài chọn nghiên cứu tế bào tinh trùng và thụ tinh ống nghiệm?

Sự nghiệp học thuật của tôi tập trung vào việc nghiên cứu một phương thức hình ảnh hiển vi quang học 3D mới lạ nhưng rất hữu dụng về mặt thiết thực cho các ứng dụng y sinh, với trọng tâm là ảnh 3D của các tế bào sinh học trong in vitro không cần nhuộm.

Trong số các lĩnh vực ứng dụng khác nhau cho những công nghệ này, IVF là một trong những lĩnh vực rất nổi bật, nơi người ta muốn có được thông tin “nhiều hơn nữa” về các tế bào được quan sát, cùng với việc giảm thiểu thiệt hại cho các tế bào này.

Để so sánh, trong các bệnh lý điển hình, bạn có thể tự do sử dụng hóa chất nhuộm trên mẫu sinh học và sau khi phân tích, mẫu đó hoặc bị loại bỏ hoặc được lưu trữ, nhưng không bao giờ được sử dụng trở lại trên cơ thể người.

Khái niệm về IVF và ICSI

Theo định nghĩa hẹp hơn (và chính xác hơn), IVF thông thường (thụ tinh trong ống nghiệm) là một quy trình trong đó trứng của phụ nữ được đặt vào bên trong đĩa petri cùng với một lượng lớn tế bào tinh trùng và một số môi trường hỗ trợ, và sự thụ tinh được dự đoán sẽ xảy ra giữa trứng với một trong các tế bào tinh trùng.

Loại IVF tiên tiến và phổ biến hơn được gọi là ICSI (tiêm tinh trùng vào bào tương noãn), vì một số nghiên cứu đã chỉ ra tỷ lệ thụ tinh cao hơn khi chọn và tiêm trực tiếp một tế bào tinh trùng vào noãn. Các quy trình này liên quan đến lĩnh vực chung của ART (Công nghệ hỗ trợ sinh sản)

Câu hỏi 2: Làm thế nào ngài phát triển một phương pháp dựng hình ảnh 3D an toàn và chính xác để theo dõi chuyển động và chất lượng tế bào tinh trùng?

Chúng tôi đã phát triển các thiết lập ảnh ba chiều lâm sàng có thể hình dung các tế bào sinh học riêng lẻ mà không cần nhuộm với độ tương phản lớn và thu được nhiều thông tin hơn có thể với nhuộm thông thường (mà điều này thì không được áp dụng trong IVF hoặc ICSI).

Ảnh ba chiều sử dụng sự giao thoa quang học của chùm mẫu với một chùm tham chiếu để ghi lại độ trễ của ánh sáng truyền qua mẫu, và do đó nó mang lại độ tương phản định lượng không có đánh dấu trong hình ảnh.

Bằng cách này, chúng tôi ghi lại toàn bộ các đầu sóng mẫu có chứa bản đồ độ dày quang học, hoặc bản đồ OPD (độ trễ đường quang học) của tế bào, để tại mỗi điểm trên bản đồ này, OPD bằng với tích phân của các giá trị chiết suất trên suốt độ dày của tế bào.

Chúng tôi đã sử dụng một chùm ánh sáng rất yếu để tránh làm hỏng vật liệu di truyền.

Hình dưới đây trình bày hình ảnh của các tế bào tinh trùng thu được trong phòng thí nghiệm của tôi, minh họa sự khác biệt giữa thông tin định tính được cung cấp bởi kính hiển vi quang trường sáng (BFM), ngay cả khi đánh dấu hoặc nhuộm để tăng cường độ tương phản, kính hiển vi cản quang giao thoa chênh lệch (DIC), là một trong những kỹ thuật chụp ảnh pha định tính thường được sử dụng, và ảnh ba chiều, hoặc kính hiển vi pha giao thoa (IPM), cho phép đo định lượng độ dày quang học của tế bào trên tất cả các điểm của nó

Các giá trị trên bản đồ địa hình OPD tỷ lệ với mật độ bề mặt vật thể khô của tế bào được chụp ảnh, đây là một ví dụ về thông số tế bào mà cho đến nay các bác sĩ lâm sàng vẫn chưa có.

hình-1-dựng-3d-hình-ảnh-tinh-trùng

Hình 1: Chụp ảnh các tế bào tinh trùng giống nhau bằng phương pháp hiển vi định tính điển hình và với IPM định lượng (ảnh ba chiều), cung cấp bản đồ địa hình OPD, như đã thu được trong nhóm của tôi. Thanh màu bên phải đại diện cho các giá trị OPD tính bằng nm, cho hình ảnh ba chiều. BFM = Kính hiển vi quang trường sáng. DIC = Độ tương phản chênh lệch, IPM = Kính hiển vi pha giao thoa (ảnh ba chiều).

Nói chung, ảnh ba chiều dựa trên một công nghệ hoàn thiện về cảm biến mặt sóng. Tuy nhiên, cho đến thời gian gần đây nó không thể được triển khai tại các phòng khám do tính cồng kềnh, không di động và yêu cầu về các kỹ năng quang học cụ thể để điều chỉnh và sử dụng nó.

Trong vài năm trở lại đây, chúng tôi đã có những nỗ lực đáng kể và đã thành công trong việc làm cho các cảm biến đầu sóng này có giá cả phải chăng để sử dụng trực tiếp trong lâm sàng

Chúng tôi sử dụng các mô-đun nhỏ gọn và di động có thể được kết nối với kính hiển vi phòng thí nghiệm hiện có và cung cấp dữ liệu ảnh ba chiều với chất lượng tương tự hoặc thậm chí tốt hơn, so với những mô-đun này được cung cấp bởi các thiết lập cồng kềnh và đắt tiền.

Thật vậy, bằng cách sử dụng các thiết lập này, chúng tôi đã chứng minh rằng các thiết lập ảnh ba chiều sẵn sàng cho phòng khám có thể dựng hình ảnh các tế bào tinh trùng với độ tương phản tuyệt vời mà không cần nhuộm màu cũng như nhuộm màu chúng hoàn toàn, nghĩa là hiển thị các tế bào như chúng đã được nhuộm hóa học (như tờ PNAS đăng gần đây) (Khi mà các thiết lập này sở hữu tiềm năng phát hiện phân mảnh DNA trong tế bào tinh trùng mà không cần nhuộm màu)

Ảnh ba chiều chỉ cung cấp một bản đồ địa hình OPD. Nó không có khả năng phân tách nội bào và không thể cung cấp hình ảnh 3D theo trục x – y – z.

Để cho phép hiển thị hình ảnh 3D đầy đủ, chụp cắt lớp giao thoa được sử dụng, trong đó nhiều hình chiếu ba chiều từ nhiều góc độ được thu thập và xử lý để tạo ra bản đồ chỉ số khúc xạ 3D

Để cho phép thu thập các hình chiếu ba chiều cho nhiều góc nhìn, có hai cách tiếp cận: xoay toàn bộ mẫu hoặc dùng ánh sáng để quét.

Tuy nhiên, không có phương pháp nào trong số này có thể giải quyết được vấn đề thu được hình ảnh 3D, không đánh dấu, có độ phân giải cao của các tế bào vận động cực nhanh, giống như các tế bào tinh trùng bơi tự do vì việc xoay mẫu hoặc chiếu sáng cần nhiều thời gian.

Kết quả nghiên cứu Dựng hình ảnh 3D cho tế bào tinh trùng đã được trình bày ở các tờ báo khoa học

Trong bài báo Science Advances gần đây của chúng tôi, chúng tôi đã trình bày việc thu được hình ảnh 3D đầu tiên về chụp cắt lớp giao thoa có độ phân giải cao toàn bộ tế bào tinh trùng (với phần đầu có các bào quan và đuôi) trong quá trình bơi tự do mà không cần nhuộm tế bào

Chúng tôi đã đạt được trắc đồ chỉ số khúc xạ 3D của đầu tinh trùng, tiết lộ các bào quan bên trong hoạt động tốt và định hướng thay đổi theo thời gian và cả bản địa hóa 4D (theo không gian và thời gian) chi tiết của phần đuôi mỏng, năng động cao của tế bào tinh trùng.

Phương pháp chụp cắt lớp đầu tinh trùng dựa trên thực tế là tinh trùng quay đầu tự nhiên trong quá trình bơi tự do, vì vậy nó cho chúng ta khả năng “tự do” để ghi lại các hình chiếu ba chiều của nó. Phương pháp này có tiềm năng lớn cho cả xét nghiệm sinh học và ứng dụng lâm sàng các tế bào tinh trùng nguyên vẹn vì nó cung cấp hình ảnh động 3D (hoặc 4D).

Xem hình ảnh dưới đây:

Hình-2-dựng-3D-tế-bào-tinh-trùng

Hình ảnh tinh trùng 4D: Thu nhận 3D của một tế bào tinh trùng trong quá trình bơi tự do mà không nhuộm màu. Tỷ lệ chuyển đổi: 2000 khung hình/giây, Thời lượng: nửa giây.

hình-3-dựng-3d-tinh-trùng

Ảnh: Hình dung các bào quan bên trong của tế bào tinh trùng, có thể được phân biệt bằng các giá trị của chỉ số khúc xạ (RI) của chúng. Điều này được thực hiện trong quá trình bơi của tinh trùng và không nhuộm màu.

KỸ THUẬT HÌNH ẢNH MỚI CÓ CẢI TIẾN VƯỢT TRỘI HƠN HẲN SO VỚI KỸ THUẬT HÌNH ẢNH SỬ DỤNG TRƯỚC ĐÂY TRONG LĨNH VỰC IVF?

Câu hỏi 3: Phương pháp hình ảnh mới của ngài có những lợi ích gì so với các kỹ thuật hình ảnh khác đã được sử dụng trước đây trong IVF?

Về kỹ thuật ảnh ba chiều thông thường của chúng tôi, WHO (Tổ chức Y tế Thế giới) và cộng đồng khoa học và lâm sàng về y học sinh sản đã xác định chính xác cấu trúc bên trong của các tế bào tinh trùng “tốt”; để có thể đánh giá liệu các tế bào tinh trùng có tuân thủ các tiêu chí này hay không, người ta cần nhuộm tế bào bằng phương pháp hóa học, và bằng cách đó, khiến chúng không phù hợp để sử dụng trong IVF.

Kỹ thuật ảnh ba chiều của chúng tôi cho phép nhà phôi học có tất cả thông tin cần thiết để áp dụng các tiêu chí của WHO, cũng như nhiều thông tin sâu sắc hơn về các tế bào tinh trùng riêng lẻ đang được quan sát, chẳng hạn như mức độ phân mảnh DNA

Giờ đây thậm chí còn tốt hơn thế nữa, vì phương pháp chụp cắt lớp của chúng tôi cung cấp khả năng thu nhận đầy đủ các động lực học 3D của tinh trùng (và không chỉ một phép chiếu ba chiều). Việc phân tích có thể được thực hiện thủ công bởi nhà phôi học hoặc một cách tự động bằng máy tính

Khi hình ảnh 4D của các tế bào tinh trùng được chọn để thụ tinh được ghi lại (trái ngược với thực tế phổ biến hiện nay), chúng chứa nhiều thông số mới, chẳng hạn như khối lượng bào quan tinh trùng và động lực học 3D đầy đủ của nó. Một cơ sở dữ liệu về tinh trùng tế bào có thể được xây dựng, phân tích bằng cách học sâu, và sau đó được sử dụng để điều tra các lý do thành công/thất bại của các cặp vợ chồng, từ đó thiết lập một công cụ y học mới được cá nhân hóa.

Câu hỏi 4: Tại sao xét nghiệm hình ảnh trên tế bào tinh trùng an toàn lại quan trọng vậy?

Có những hướng dẫn quy định rất nghiêm ngặt về sự an toàn đối với giao tử (tức là trứng và tế bào tinh trùng) nhằm mục đích sử dụng để tạo phôi trong ống nghiệm, vì rõ ràng, người ta hy vọng rằng chúng sẽ trở thành những đứa trẻ.

Câu hỏi 5: Tại sao không được phép nhuộm tế bào tinh trùng trong IVF?

Có nhiều loại thuốc nhuộm khác nhau, tuy nhiên, phương pháp nhuộm có thể cần phải “giết chết” tế bào tinh trùng, bằng cách phá vỡ màng ngoài của nó để thấm (tức là xuyên qua) nó bằng chất đánh dấu cụ thể và liên kết bên trong với phân tử đích, có thể là một protein trong nhân, acrosome, tế bào chất, v.v

Hơn nữa, quy trình thụ tinh ống nghiệm ở người thường không cho phép sử dụng thuốc nhuộm huỳnh quang thậm chí cho các tế bào tinh trùng sống do nguy cơ làm hỏng vật liệu di truyền của tinh trùng

Giáo sư Natan Shaked chia sẻ về tầm quan trọng của chất lượng tinh trùng trong IVF:

Việc lựa chọn tinh trùng tốt hơn sẽ mang lại tỷ lệ và kết quả mang thai tốt hơn. Cho kết quả lâm sàng là ở một ca sinh sống trong số khoảng sáu chu kỳ IVF

Các tinh trùng riêng lẻ cuối cùng sẽ thụ tinh với trứng được cho là có vai trò quan trọng không kém trong việc quyết định số phận của việc mang thai, điều này tương tự đối với trứng. Việc nuôi cấy phôi điển hình trong 3 hoặc 5 ngày, sẽ chỉ cho một cái nhìn thoáng qua về “chất lượng” toàn diện của phôi và cơ hội sinh con sống của nó.

Trên thực tế, có những kỹ thuật tương đối mới đang được sử dụng để thay thế cho phương pháp chọc dò màng ối, thường được gọi là PGD hoặc PGS, nhưng chúng hầu như chỉ đủ để thử và xác định các đặc điểm di truyền cụ thể, vì vậy những phát triển này không cạnh tranh mà là hoàn thiện lẫn nhau

Ngoài ra, chúng tôi không muốn phải đối mặt với tình huống mà tất cả trứng trong chu kỳ IVF đều được thụ tinh bởi các tế bào tinh trùng không mong muốn.

Câu hỏi 6: Phương pháp này sẽ giúp cải thiện phương pháp điều trị IVF trong tương lai như thế nào?

Chúng tôi tin rằng cũng giống như bất kỳ chuyên viên phôi học nào hiện nay đang sử dụng kính hiển vi tiêu chuẩn của họ để xem cách một tế bào tinh trùng sáng giá bơi hoặc về hình dạng nói chung, trong một tương lai không xa, chúng ta sẽ thấy nhiều chuyên viên phôi học áp dụng sàng lọc toàn diện các tế bào tinh trùng sáng giá trước khi tiêm chúng vào những quả trứng đã lấy.

Giáo sư còn bày tỏ ứng dụng AI trong việc chọn lựa tinh trùng 

Xa hơn nữa, chúng tôi dự định tạo ra một cơ sở dữ liệu toàn diện về hình ảnh 3D không nhuộm của tinh trùng cùng với hình ảnh phôi thai và thông tin kết quả lâm sàng, đồng thời sử dụng các phương pháp học sâu, mở đường cho việc lựa chọn tinh trùng dựa trên dữ liệu lớn AI thế hệ tiếp theo.

 

Liên hệ Intesco để tìm hiểu thêm về xu hướng ứng dụng AI trong Xét nghiệm tinh dịch mang lại tính chính xác và loại bỏ yếu tố chủ quan. Chúng tôi đã có buổi tọa đàm online cùng các chuyên gia tại Việt Nam và chuyên gia nước ngoài, cùng đại diện công ty LensHooke

 

Câu hỏi 7: Ngài có tin rằng kỹ thuật hình ảnh của ngài có thể giúp chẩn đoán các vấn đề về khả năng sinh sản của nam giới không?

Cứ sáu cặp vợ chồng thì có một cặp gặp vấn đề về khả năng sinh sản. Người ta tin rằng 1/3 số trường hợp vô sinh là do nam, 1/3 do nữ và 1/3 còn lại là do yếu tố kết hợp.

Việc đánh giá lâm sàng xem trường hợp có thuộc một trong các nhóm này hay không thường được thực hiện, sau một số xét nghiệm lâm sàng và xét nghiệm thông thường được thực hiện với cặp vợ chồng bao gồm phân tích tinh trùng.

Kỹ thuật của chúng tôi dựa trên việc dựng hình ảnh duy nhất và trực tiếp mà không nhuộm tế bào tinh trùng với máy móc ở cấp độ lâm sàng.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi đã tìm cách phát triển một loại công nghệ hình ảnh hoàn toàn mới có thể cung cấp càng nhiều thông tin càng tốt về tinh trùng và cho phép lựa chọn tinh trùng tối ưu trong các phương pháp điều trị thụ tinh trong ống nghiệm. Như đã giải thích ở trên, chúng tôi đã chọn chụp cắt lớp ba chiều.

Bằng việc sử dụng kỹ thuật của chúng tôi, chúng tôi tin rằng một xét nghiệm nhanh chóng, rẻ tiền và đơn giản có thể khẳng định hoặc phủ nhận những lời giải thích tiềm ẩn về vô sinh.

Kết quả nghiên cứu ứng dụng 3D cho tinh trùng xuất hiện trên tờ Fertility & Sterility

Trong bài báo về Khả năng sinh sản và Vô sinh của chúng tôi, chúng tôi đã chỉ ra rằng chúng tôi có thể làm tốt như quy trình của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đối với các tế bào nhuộm màu, nhưng không cần nhuộm màu. Và điều này chỉ bằng cách sử dụng một phép chiếu ba chiều duy nhất.

Tôi đã cùng với CEO Alon Shalev đồng sáng lập một công ty có tên QART Medical, dự kiến ​​sẽ đưa công nghệ này vào các phòng khám trong vòng 2 năm tới. TẠi công ty, chúng tôi đã chế tạo một số máy chụp ảnh tinh trùng lâm sàng và dự kiến ​​sẽ sớm bắt đầu thử nghiệm lâm sàng.

Bây giờ thậm chí còn tốt hơn thế nữa vì chúng tôi có một phương pháp dựng hình ảnh 3D rất nhanh cho toàn bộ tinh trùng (đầu và đuôi) mà không cần nhuộm màu.

Vì vậy, chúng ta có thể liên hệ động học 3D của tinh trùng với hình thái của nó và hiểu được cơ chế lựa chọn tinh trùng ở cơ thể phụ nữ.

Câu hỏi 8: Các bước tiếp theo trong nghiên cứu của ngài là gì?

Chúng tôi đã xây dựng một số nguyên mẫu làm việc trong phòng thí nghiệm của tôi để chụp ảnh ba chiều trong môi trường lâm sàng, chụp ảnh hàng nghìn tế bào tinh trùng, phân tích chúng và thực hiện các xét nghiệm khác nhau bởi các nhà phôi học lâm sàng có kinh nghiệm, để xác nhận kỹ thuật của chúng tôi

Chúng tôi muốn có thể đưa công nghệ này đến các phòng khám càng sớm càng tốt, công nghệ này sẽ cho phép sử dụng nó cho IVF và ICSI ở người.

Bằng việc sử dụng kỹ thuật hình ảnh 4D gần đây của chúng tôi, tôi dự định nghiên cứu các hành vi động lực học của tinh trùng trong các tình huống khác nhau, để xây dựng một mô hình lý sinh và cơ sinh thống nhất kết nối hình thái, chuyển động và nội dung 3D của tinh trùng

Tôi cũng có kế hoạch kiểm tra toàn bộ khả năng của kỹ thuật hình ảnh 4D không cần nhuộm màu của chúng tôi trong việc phát hiện các chi tiết hình thái khác nhau mà cho đến nay không thể phát hiện được trong quá trình thụ tinh ống nghiệm và ICSI và định lượng tầm quan trọng lâm sàng của chúng, cũng như kiểm tra khả năng kỹ thuật của chúng tôi trong việc đo mức độ phân mảnh DNA trong tế bào sinh tinh.

Như vậy, Intesco vừa giới thiệu Buổi trao đổi nói chuyện với giáo sư Natan Shaked đến anh chị khách hàng, đặc biệt là các anh chị đang là chuyên viên phôi học, với mong muốn mang lại những cập nhật mới nhất về sự phát triển không ngừng của công nghệ hỗ trợ cho lĩnh vực IVF. Đó cũng là tinh thần của Intesco ngay từ khi thành lập từ 2003.

Một trong số  các sản phẩm/dịch vụ Intesco đang cung cấp, đang nổi trội và nhận được nhiều quan tâm, đó là:

  1. Hệ thống quản lý trung tâm IVF – IMS – giúp cho sự vận hành của trung tâm IVF trở nên trơn tru và mượt mà, thông qua việc kết nối các khâu từ Lâm sàng đi vào Lab IVF  Xem chi tiết⇐
  2. Thiết bị đánh giá chất lượng tinh dịch bằng công nghệ AI Xem chi tiết⇐

Có bất cứ mong muốn tìm hiểu thêm về các ứng dụng/công nghệ mới. Hãy liên hệ với chúng tôi.

 

Thông tin về Giáo sư Natan Shaked:

Giáo sư Natan T. Shaked là một Phó Giáo sư đã qua nhiệm kỳ và là giám đốc của Nhóm nghiên cứu quang học y sinh, nội soi nano và giao thoa kế (OMNI) (www.eng.ac.il/~omni), một nhóm nghiên cứu lớn là một phần của Khoa Kỹ thuật Y sinh và Trung tâm Nano của Đại học Tel Aviv, Tel Aviv, Israel.

Nằm trên ba không gian phòng thí nghiệm, nhóm thực hiện nghiên cứu đa ngành liên quan đến hình ảnh và cảm biến quang học trong các hệ thống sinh học. Cho đến tháng 4 năm 2011, Giáo sư Shaked là Trợ lý Giáo sư thỉnh giảng tại Khoa Kỹ thuật Y sinh tại Đại học Duke, Durham, Bắc Carolina, Hoa Kỳ

Shaked có BSc, MSc và Ph.D. bằng Kỹ sư Điện và Máy tính. GS Shaked là đồng tác giả của hơn 80 bài báo trên tạp chí được tham khảo và 150 bài báo hội nghị, một số chương sách, bằng sáng chế và một cuốn sách đã được biên tập.

Ông đang chủ trì hội nghị thường niên về Hình ảnh và Cảm biến Không có Nhãn của SPIE (LBIS) tại SPIE Photonics West, San Francisco, Hoa Kỳ, và là đồng sáng lập của QART Medical Ltd (www.qart-medical.com). Giáo sư Shaked đã giành được nhiều tài trợ nghiên cứu danh giá bao gồm tài trợ cá nhân HORIZON2020 ERC, tài trợ cho nghiên cứu này

Biên tập: Trang Thanh Nhã – Intesco

Nguồn: News Medical

Continue reading →


Nằm trong mục tiêu hỗ trợ tối đa cho khách hàng, giúp khách hàng đạt được kết quả sống sau rã cao nhất đối với sản phẩm Cryotop, Kitazato đã tổ chức buổi hỏi đáp cùng chuyên gia trên nền tảng online, là chuyên viên phôi học Gisela Maggiotto, thuộc Nhóm chuyên gia cao cấp về Vitrification của Kitazato giúp khách hàng thêm sáng tỏ và tự tin khi sử dụng.

7 phần của buổi trao đổi bao gồm các chủ đề:

Phần 1: Tốc độ làm ấm và Tốc độ làm lạnh và Ảnh hưởng của thành phần môi trường

Phần 2: Các mẹo và thủ thuật giúp mang lại tỉ lệ sống sau rã và kết quả lâm sàng tốt nhất

Phần 3: Vấn đề bảo tồn khả năng sinh sản mang tính xã hội “Social”

Phần 4: Việc bảo tồn trong các chỉ định y khoa để đảm bảo sức khỏe sinh sản

Phần 5: Ngân hàng trứng phục vụ cho việc hiến tặng trứng (noãn)

Phần 6: Đóng góp vào các chương trình PGT – Xét nghiệm di truyền tiền làm tổ

Phần 7: Chu kỳ trữ phôi toàn bộ

Với vai trò là đại diện duy nhất của Kitazato tại Việt Nam, Intesco sau đây sẽ tổng kết các câu hỏi và câu trả lời trong buổi trao đổi cùng chuyên viên phôi học Gisela Maggiotto, thuộc Nhóm chuyên gia cao cấp về Vitrification của Kitazato đã diễn ra vừa qua, nhằm mục tiêu cung cấp thông tin giúp khách hàng

ĐẠT ĐƯỢC TỈ LỆ SỐNG SAU RÃ CAO NHẤT CÙNG KỸ THUẬT TRỮ LẠNH VỚI SẢN PHẨM CRYOTOP CỦA KITAZATO

Mời các anh chị chuyên viên phôi học và các bác sĩ cùng tham khảo:

Phần 1: Tốc độ làm ấm và Tốc độ làm lạnh và Ảnh hưởng của thành phần môi trường

Câu 1: Tại sao môi trường quy trình trữ rã của Kitazato thực hiện ở nhiệt độ phòng?

Khả năng thẩm thấu và cách hoạt động của nước, chất bảo quản đông lạnh trao đổi qua màng tế bào như thế nào, phụ thuộc vào nhiệt độ. Môi trường của Kitazato thì hoạt động hiệu quả ở nhiệt độ phòng. Bởi ở nhiệt độ phòng, là nhiệt độ mà tại đó cho phép diễn ra sự trao đổi chính xác giữa nước và chất bảo quản động lạnh, để bảo vệ màng tế bào nguyên vẹn. Quy trình làm ấm là bước đầu tiên, sẽ được thực hiện ở 370C. Sự khác biệt chính xác về nhiệt độ từ -196ºC đến 370C là yếu tố quan trọng cần được đảm bảo nhằm được kết quả tốt sau này của quy trình trữ-rã Kitazato.

Câu 2: Chức năng của Hydroxipropyl Cellulose trong môi trường là gì?

Hyproxipropyl Cellulose là thành phần thay thế albumin, được xem là một nguồn cung cấp protein cho tế bào. Dung dịch Vitri được bổ sung HPC cho độ nhớt cao hơn và mang lại tỉ lệ sống sót sau rã cao hơn, đồng thời giúp tránh được nguy cơ nhiễm nội độc tố và virus. Nó cũng làm giảm tình trạng stress cơ học cho tế bào trong suốt quá trình làm ấm và tăng tỉ lệ sống ở phôi nang giai đoạn giãn nở.

Câu 3: Tốc độ làm ấm có quan trọng hơn tốc độ làm lạnh?

Cả hai đều quan trọng. Nhưng, nếu đảm bảo tốc độ làm ấm cao thì sẽ tránh được hiện tượng kết tinh – hiện tượng gây chết cho tế bào trong quá trình rã. Theo protocol của Kitazato, chúng ta sẽ đảm bảo được cả tốc độ làm lạnh và tốc độ làm ấm cao.

Câu 4: Kitazato có chứa DMSO, và chúng tôi nghe nói, nó sẽ gây hại cho tế bào.

Ngày nay, DMSO là một chất bảo quản đông lạnh được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất ở khắp nơi, vì nó cho thấy không những có hiệu quả trong trữ phôi mà còn cả trong trữ trứng. Kết hợp với EG, môi trường Kitazato cam kết ít độc tố hơn và đem lại kết quả tốt nhất sau rã đông.

Phần 2: Các mẹo và thủ thuật giúp mang lại tỉ lệ sống sau rã và kết quả lâm sàng tốt nhất

Câu 1: Cùng một lúc nên trữ bao nhiêu trứng?

Theo protocol của hãng, tối đa 16 trứng có thể được vitri ở cùng một thời điểm. Tất cả 16 trứng sẽ được làm cân bằng trong môi trường cân bằng ở cùng một giếng đầu tiên, sau đó ở phút thứ 12, chúng tôi sẽ bắt đầu bước thủy tinh hóa liên tiếp, lấy mỗi một nhóm 4 trứng một lần. Cần kiểm soát thời gian của trứng trong môi trường VS để đảm bảo trứng được ở trong môi trường này không dưới 1 phút, và không bao giờ tái sử dụng môi trường VS. Mỗi nhóm 4 trứng phải có một phạm vi môi trường VS riêng và đảm bảo môi trường sử dụng là mới hoàn toàn.

Câu 2: Bước nào mang tính quyết định trong quá trình vitri – thủy tinh hóa

Bước tiếp xúc với môi trường VS (1 phút), bởi vì nồng độ CPA ở bước này cao.

Câu 3: Thể tích môi trường khi load lên cryotop được khuyến nghị là bao nhiêu?

Các tế bào phải được load lên cryotop với thể tích tối thiểu để đảm bảo tốc độ làm lạnh cao nhất, tuy nhiên, nếu vượt quá ngưỡng giới hạn, thì sẽ gây hại cho tế bào, làm cho tế bào bị dính chặt vào Cryotop khi rã. Chúng tôi khuyến nghị load với một thể tích tối thiểu để đảm bảo tốc độ làm lạnh, vừa đủ bao phủ các tế bào, nhưng không được quá khô, để ngăn ngừa tình trạng dính chặt cũng như gây stress cơ học cho tế bào trứng/phôi khi rã.

Câu 4: Khi nhúng cryotop vào Ni tơ lỏng, tại sao chúng tôi phải lắc nó?

Để loại bỏ bong bóng khí và làm tăng tốc độ làm lạnh

Khi các mẫu/tế bào đã được trữ lạnh, vui lòng chú ý trong quá trình bảo quản Cryotop. Việc tiếp xúc dù nhanh với nhiệt độ phòng sẽ dẫn đến việc hình thành tinh thể đá và gây tổn thương cho tế bào.

Câu 5: Có khuyến nghị phải làm xẹp ( collapse) phôi nang trước khi trữ không?

Khi sử dụng môi trường của Kitazato, không cần phải collapse nang trước khi trữ. Tỉ lệ sống của phôi nang có khoang giãn nỡ rất cao, đến 98%.

Câu 6: Số trứng/phôi tối đa và tối thiểu có thể được trữ trên 1 cryotop?

Tối thiểu là 1 và tối đa là 4.

Câu 6: Chúng tôi phải giữ bao lâu trong môi trường nuôi cấy sau rã để có thể chuyển phôi? Phải quan sát thông số nào để biết?

Khuyến nghị nuôi cây 2-4 giờ sau rã. Mức độ giãn nở của phôi là yếu tố hình thái học quan trọng nhất để dự đoán tỉ lệ thành công, hơn cả độ TE và ICM.

Phần 3: Vấn đề bảo tồn khả năng sinh sản mang tính xã hội “Social”

Câu 1: Độ tuổi tốt nhất để bảo tồn khả năng sinh sản?

Khoa học đã chứng minh, khả năng sinh sản của phụ nữ sau 35 tuổi giảm đáng kể. Ngày nay, phụ nữ quyết định bảo tồn trứng của mình trong khoảng độ cuối những năm 30 và đầu những năm 40. Vì thế, theo nhiều nghiên cứu, đã khuyến khích phụ nữ nên trữ trứng dưới 35 tuổi vì chất lượng trứng khi đó của họ sẽ tốt hơn.

Câu 2: Cần trữ bao nhiêu trứng để cho kết quả tốt hơn?

Theo một nghiên cứu hồi cứu lớn, đã chứng minh cho thấy số lượng trứng kết hợp với tuổi khi trữ có liên quan mật thiết đến tỉ lệ thành công. Thực tế, những bệnh nhân lựa chọn trữ trứng dưới 35 tuổi, trữ 10-15 trứng có xác xuất tích lũy có con là 45 -70%, trong khi đó ở những bệnh nhân trên 35 với cùng số trứng trữ, tỉ lệ thành công giảm từ 25 – 40%

Câu 3: Trứng có thể trữ lạnh trong thời gian bao lâu?. Kitazato có đề xuất nào về khoảng thời gian?

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng không có mối tương quan giữa khoảng thời gian bảo quản lạnh và tỉ lệ sống. Điều đó cho thấy rằng trứng còn sống sau rã có thể giữ được tiềm năng phát triển của nó thành các phôi có đủ khả năng, thậm chí sau cả một thời gian bảo quản lâu dài.

Phần 4: Việc bảo tồn sinh sản trong các chỉ định y khoa để đảm bảo sức khỏe sinh sản

Câu 1: Tại sao điều trị ung thư có thể gây vô sinh?

Hóa trị, xạ trị, phẫu thuật hay kết hợp của các phương pháp điều trị này có thể gây suy buồng trứng sớm vì buồng trứng rất nhạy cảm. Các tổn hại sẽ liên quan đến sự dự trữ của buồng trứng, mức độ ảnh hưởng rộng rãi và đa dạng, phụ thuộc vào từng bệnh nhân khác nhau.

Câu 2: Cô có khuyến nghị trữ trứng hay trữ mô buồng trứng ở những bệnh nhân ung thư không?

Nhìn chung, các khuyến nghị sẽ được đưa ra tùy thuộc vào bệnh, độ tuổi, thời điểm, mức độ chuyên môn của từng trung tâm để thực hiện được kỹ thuật này hoặc kỹ thuật khác.

Trữ trứng được xem là phương pháp chuẩn để bảo tồn khả năng sinh sản cho những phụ nữ đang đối diện với những bệnh lành tính và với những người có thể trì hoãn các liệu pháp điều trị ung thư mà vẫn an toàn. Mặt khác, trữ mô buồng trứng, chủ yếu được chỉ định cho các bé gái tiền dậy thì và những phụ nữ phải điều trị ung thư ngay lập tức.

Câu 3: Cô nghĩ sao về việc bảo tồn khả năng sinh sản cho những phụ nữ bị lạc nội mạc tử cung?

Trữ trứng bằng kỹ thuật thủy tinh hóa rất được khuyến khích ở những bệnh nhân lạc nội mạc tử cung trước khi điều trị phẫu thuật. Những phụ nữ trẻ là những ứng cử viên thích hợp nhất cho phương pháp này vì họ sẽ cần ít chu kỳ kích thích buồng trứng hơn do sự dự trữ buồng trứng và tiên lượng sinh sản tốt hơn. Nếu như không có bất cứ lần phẫu thuật nào trước đó thì họ có cơ hội thu được số lượng trứng cao hơn và cuối cùng là họ sẽ đạt được tỉ lệ sinh sống tích lũy cao hơn.

Câu 4: Có thể thực hiện trữ mô buồng trứng cùng với trữ trứng không?

Trữ mô buồng trứng thực hiện sau khi kích thích buồng trứng và trữ lạnh trứng mang lại cơ hội thành công cao hơn cho các bệnh nhân trẻ, miễn là việc trì hoãn hóa trị vẫn nằm trong mức an toàn.

Phần 5: Ngân hàng trứng phục vụ cho việc hiến tặng trứng (noãn)

Câu 1: Chiến lược sử dụng trứng tươi hay trứng trữ tốt nhất là gì?

Đã có những bằng chứng cho thấy không có sự khác biệt đáng kể trong việc sử dụng trứng trữ hay trứng tươi trong các chu kỳ xin cho trứng. Tuy nhiên, việc sử dụng trứng trữ sẽ mang đến những lợi ích theo sau thông qua việc khắc phục các hạn chế khi sử dụng trứng tươi, như:

Quản lý chu kỳ dễ dàng hơn. Không cần phải đồng bộ giữa người cho và người nhận

Giảm thiểu danh sách chờ

Đặt ngày chuyển phôi dễ dàng hơn. Bệnh nhân giảm thiểu stress, tự tin và thấy thoải mái hơn.

Câu 2: Chiến lược tốt nhất cho một chu kỳ xin trứng từ ngân hàng là gì?

Hai chiến lược chính được thực hiện cho các chu kỳ xin cho trứng xuyên biên giới – giữa các quốc gia, giữa các trung tâm là:

  • Tiến hành thụ tinh trứng tươi của người cho với tinh trùng của chồng người nhận, tạo ra phôi và trữ lạnh phôi bằng kỹ thuật thủy tinh hóa, sau đó chuyển phôi này về trung tâm IVF để tiến hành rã và chuyển phôi trữ.
  • Mang trứng người cho đã trữ về trung tâm, sau đó rã và tiến hành ICSI với tinh trùng của chồng người nhận, nuôi cấy đến giai đoạn blastocyst, sau đó chuyển đơn phôi – 1 phôi.

Tùy trường hợp mà chúng ta có thể chọn cách này hay cách kia.

Câu 3: Phân bổ trứng trữ của người cho như thế nào ở mỗi cặp vợ chồng để tối đa hóa kết quả lâm sàng?

Rã nhiều trứng tất nhiên sẽ mang lại sự tự tin cho tỉ lệ thành công cao hơn. Tuy nhiên, trong một vài nghiên cứu cho thấy rằng, rã trung bình 7 đến 9 trứng có liên quan đến tỉ lệ sinh sống tích lũy sẽ >50%. Đây là một kết quả tốt, hợp lý cả ở khía cạnh cân đối chi phí cho bệnh nhân trong vấn đề quản lý những kế hoạch điều trị.

Câu 4: Số phôi thu được và số phôi chuyển  tầm  bao nhiêu trong chu kỳ xin cho trứng?

Sau rã đông, trứng của người cho sẽ được thụ tinh với tinh trùng của chồng người nhận, số lượng phôi nang tốt được tạo ra phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Để đảm bảo cho một chu kỳ điều trị hiệu quả và phụ hợp, chúng tôi khuyến nghị chuyển đơn phôi blastocyte để ngăn ngừa đa thai. Số phôi dư còn lại sẽ được bảo quản để cho lần sau nếu lần này thất bại, hoặc cho em bé thứ hai.

Câu 5: Sử dụng phương pháp thủy tinh hóa – vitri có đảm bảo an toàn cho chương trình trữ lạnh trứng cho ngân hàng trứng?

Các quy trình thủy tinh hóa cho Ngân hàng trứng sẽ do các chuyên viên phôi học được đào tạo và có trình độ thực hiện, sử dụng các sản phẩm được cấp chứng nhận từ các cơ quản có thẩm quyền quản lý để chắc chắn về tính hiệu quả và an toàn khi sử dụng. Phương pháp thủy tinh hóa với Cryotop được chứng minh rộng rãi thông qua kết quả về tỉ lệ sống sau rã cao nhất và đó là lý do tại sao Kitazato là sản phẩm được tham khảo để sử dụng trong các chương trình xây dựng Ngân hàng trứng trên toàn thế giới, cung cấp dịch vụ chất lượng cao và cam kết thành công ở mức tối đa.

Sự thành công trong trong việc hiến tặng trứng yêu cầu sự phối hợp làm việc với nhau giữa Ngân hàng trứng và trung tâm IVF để đảm bảo tỉ lệ sống sau rã cao. Vì mục tiêu đó mà một số Ngân hàng trứng cung cấp các khóa đào tạo thực hành rã đông cho các trung tâm hợp tác với Ngân hàng để đảm bảo về tỉ lệ sống.

Phần 6: Đóng góp vào các chương trình PGT – Xét nghiệm di truyền tiền làm tổ

Câu 1: Ảnh hưởng của sự tái giãn nở ở phôi nang lên kết quả là như thế nào?

Độ tái giãn nở của phôi nang sau rã đông được xem là một chỉ số cho biết về tình trạng phục hồi của phôi trữ và trong một số nghiên cứu đã cho thấy rằng các phôi nang sau rã đông có độ tái giãn nở nhanh có tỉ lệ mang thai cao hơn. Tuy nhiên, các nghiên cứu khác cũng biểu thị rằng có sự điều chỉnh hình thái của phôi trước khi trữ, từ đó khả năng dự đoán này trở nên không còn đáng kể, đối với những phôi nang đơn bào và chưa được xét nghiệm trước trữ. Vì thế, họ ủng hộ cho ý kiến rằng đặc điểm của phôi trước trữ là biểu thị rõ ràng nhất cho khả năng làm tổ của phôi.

Câu 2: Việc sinh thiết có thể có ảnh hưởng đến phôi sau rã đông không?

Nhiều dữ liệu được công bố từ các nhóm quan trọng, các nhóm mà họ thực hiện chương trình PGT hàng ngày, xác nhận về tính tin cậy cao của kỹ thuật thủy tinh hóa và sinh thiết. Nhưng, cũng phải nói rằng tỉ lệ sống của phôi nang thấp hơn có thể liên quan đến chất lượng phôi trước trữ kém và tỉ lệ phôi phát triển chậm.

Câu 3: Sinh thiết 2 lần có an toàn ở khía cạnh kết quả sống sau rã và làm tổ?

Theo các dữ liệu được báo cáo cho đến nay thì phù hợp để cho rằng dường như không có tác hại nào bắt nguồn từ việc tái sinh thiết và thực hiện chu kỳ rã đông sau đó. Tỉ lệ làm tổ của các phôi nang sống sau rã theo một số báo cáo, nằm trong khoảng 38 -57%. Với dữ liệu này, có thể đề xuất rằng phôi nang ở người có khả năng chịu đựng để chống lại một số nguồn gây căng thẳng cho nó, điều này cũng hỗ trợ cho tính an toàn của phương pháp thủy tinh hóa. Vì thế, tái trữ, tái rã là một lựa chọn và kết quả sinh sản dường như không ảnh hưởng đáng kể. Chỉ cần phôi nang đang thực hiện các kỹ thuật này không phải là phôi có chất lượng kém trước trữ và không phải là phôi có tốc độ phát triển chậm.

Phần 7: Chu kỳ trữ phôi toàn bộ

Câu 1: Chủ trương trữ phôi toàn bộ là gì?

Chủ trương của trữ phôi toàn bộ bao gồm việc bảo quản lạnh toàn bộ phôi và chuyển phôi sau đó trong một chu kỳ tự nhiên hay trong một chu kỳ theo dõi và chuẩn bị nội mạc. Mục đích là để tạo môi trường sinh lý cho việc làm tổ tốt hơn khi chuyển phôi, loại bỏ tác dụng phụ của gonadotropin. Thêm vào đó thì việc trữ lạnh phôi toàn bộ còn để phục vụ cho những phụ nữ gặp phải trường hợp đáp ứng buồng trứng kém.

Câu 2: Trữ phôi toàn bộ được chỉ định cho bệnh nhân nào?

Chỉ định trữ phôi toàn bộ được chỉ định khi chu kỳ phôi tươi, bệnh nhân có dấu hiệu của những ảnh hưởng từ quá trình kích thích buồng trứng. Những trường hợp bệnh nhân có nguy cơ cao hội chứng quá kích buồng trứng, nồng độ progesteron cao trong ngày trigger và bất thường nội mạc tử cung.

Trữ phôi toàn bộ cũng được thay thế cho các trường hợp hủy chu kỳ do đáp ứng buồng trứng kém khi chuyển phôi tươi không có lợi.

Câu 3: Trữ phôi toàn bộ có làm giảm thiểu các chu kỳ hủy không?

Hủy chu kỳ là một mối quan tâm chính trong các chu kỳ IVF, về khía cạnh cảm xúc và cả chi phí của bệnh nhân. Đối với những trường hợp đáp ứng buồng trứng kém, nguy cơ hủy chu kỳ cao hơn ở những người đáp ứng bình thường, nguyên do chính nằm ở chỗ số trứng thu được ở mỗi lần kích thích thấp hơn so với bình thường. Đó là lý do mà chiến lược trữ phôi toàn bộ bằng cách trữ lại tất cả trứng hay phôi sau những chu kỳ kích thích buồng trứng liên tiếp là một hướng tiếp cận tốt cho những bệnh nhân thuộc dạng này.

Câu 4: Chủ trương trữ phôi toàn bộ không làm ảnh hưởng đến kết quả sống sau rã trong trữ lạnh bằng phương pháp thủy tinh hóa – vitri, có phải như vậy không?

Nguy cơ hủy chu kỳ do tổn thương trong quá trình trữ rã bảo quản lạnh đã trở thành những nguy cơ cực kỳ thấp. Kết quả lâm sàng trừ chuyển phôi trữ lạnh đã cho thấy tỉ lệ làm tổ và tỉ lệ có thai cao hơn so với các chu kỳ kích thích buồng trứng có kiểm soát. Các tác động bất lợi từ trữ phôi toàn bộ liên quan nhiều hơn đến phác đồ kích thích hơn là ở chính kỹ thuật trữ lạnh.

Câu 5: Bảo quản phôi tốt hơn là bảo quản trứng, đúng hay sai?

Cho dù sau rã, tỉ lệ sống của phôi có cao hơn so với trứng. Với các bệnh nhân đang nhận được những lợi ích của chiến lược của những chu kỳ trữ toàn bộ, thì cả hai chiến lược, tích lũy trứng hay là trữ phôi toàn bộ đều có thể mang đến tỉ lệ làm tổ cao hơn so với các chu kỳ chuyển phôi tươi.

Để biết thêm chi tiết về sản phẩm của Kitazato, có thể click vào đây, hoặc liên hệ trực tiếp với Intesco qua mục Liên hệ. Đội ngũ tư vấn của Intesco luôn sẵn sàng giải đáp.

Với mục tiêu hỗ trợ tốt nhất cho khách hàng, Intesco hy vọng qua những câu hỏi và câu trả lời đến từ chuyên gia sẽ mang đến niềm tin rằng Kitazato xứng đáng với sự lựa chọn với những khách hàng đang sử dụng và các khách hàng đang còn băn khoăn có thể tự tin đặt Kitazato vào danh sách tham khảo cho sự chọn lựa.

Các video của 7 phần hỏi đáp, các anh chị chuyên viên phôi học, bác sĩ có thể tham khảo:

Phần 1: Tốc độ làm ấm và Tốc độ làm lạnh và Ảnh hưởng của thành phần môi trường

Phần 2: Các mẹo và thủ thuật giúp mang lại tỉ lệ sống sau rã và kết quả lâm sàng tốt nhất

Phần 3: Vấn đề bảo tồn khả năng sinh sản mang tính xã hội “Social”

Phần 4: Việc bảo tồn trong các chỉ định y khoa để đảm bảo sức khỏe sinh sản

Phần 5: Ngân hàng trứng phục vụ cho việc hiến tặng trứng (noãn)

Phần 6: Đóng góp vào các chương trình PGT – Xét nghiệm di truyền tiền làm tổ

Phần 7: Chu kỳ trữ phôi toàn bộ

Biên tập: Trang Thanh Nhã – Intesco

Tin thế giới: Covid-19 dẫn đến tăng đáng kể số phụ nữ quyết định trữ lạnh trứng


Các số liệu tổng hợp cho thấy, số lượng phụ nữ cân nhắc việc trữ lạnh trứng của họ đã tăng lên đáng kể. Liệu có phải là do đại dịch Covid-19?.

Tại các trung tâm hỗ trợ sinh sản, ở đây, họ nhận thấy rằng số lượng phụ nữ đến trung tâm của họ để hỏi thăm về việc trữ lạnh trứng tăng một cách mạnh mẽ, tăng hơn 50% so với mức bình thường ở một số phòng khám.

Nguyên nhân cụ thể đến từ đâu?

Việc đưa ra lệnh cách ly, đóng cửa, hạn chế tiếp xúc từ phía nhà nước của các quốc gia trong khoảng thời gian Covid-19 bùng phát, đã có ảnh hưởng đối với một số phụ nữ trong quyết định của họ, khi họ có một khoảng thời gian để suy ngẫm về tương lai làm cha mẹ của mình, đặc biệt một khi Covid-19 xuất hiện, cũng khiến cho cơ hội gặp gỡ bạn đời của phụ nữ giảm đi đáng kể. Đó cũng là một trong những lý do khiến số lượng phụ nữ quyết định trữ lạnh trứng tăng lên đột ngột.

Cụ thể, trong buổi trả lời với tờ Sunday Times, cô Kate Davidson, một phụ nữ đến từ Cheltenham, 35 tuổi và độc thân đã nói rằng: Phần lớn là vì tôi muốn chia sẻ trứng của mình…Nhưng một phần tôi cũng muốn giữ và cất đi một vài thứ gì cho bản thân mình bây giờ. Tôi khá suy tư về công việc, cuộc sống – tất cả những điều đó. Tôi nghĩ chúng là những điều đã thúc đẩy tôi quyết định.”

Còn với một phụ nữ khác, cô Katherine thì có những giải thích dựa trên nhận định của cô về thế giới, cô cho biết: “Toàn bộ cách mà chúng tôi giao tiếp xã hội và cả cách hẹn hò đều đã thay đổi, vì thế nếu trong trường hợp tôi không gặp được người đàn ông trong mộng của mình cho đến khi tôi 39 tuổi, thì ít nhất tôi biết mình đã có trứng của một người 33 tuổi. Tôi chưa gặp được người đó, và với virus corona, tôi cảm thấy việc đó ngày càng khó hơn. Đó là nguyên nhân”.

Báo cáo cho biết, so với mùa hè năm ngoái, thì ở cả Trung tâm Create Fertility và Trung tâm Phụ nữ Luân Đôn của nước Anh, đều chứng kiến ​​số lượt tư vấn để đông lạnh trứng tăng đến 25%, hai trung tâm khác là King’s Fertility và Trung tâm Harley Street Fertility lần lượt tăng tương ứng là 15% và 20%. Đó là một con số vượt trội đến bất ngờ so với trước đây, khi chưa có sự xuất hiện của virus corona.

Hiện tượng Trữ lạnh trứng một cách “social” mang tính xã hội như vậy, là một hiện tượng, mà đối tượng ở đây là những phụ nữ, muốn bảo tồn khả năng sinh sản của họ, vì lý do lối sống, không phải vì lý do y tế hay đang gặp vấn đề về bệnh tật, khó sinh sản. Điều này ở Anh cho phép và chi phí trung bình cho một ca như vậy là 3350 bảng Anh.

Trong một báo cáo gần đây nhất của Anh, từ Ủy ban Phôi học và Thụ tinh ở người, cơ quan này cho biết rằng số lượng phụ nữ chọn trữ lạnh trứng hoặc trữ lạnh phôi ở chỗ họ đã tăng đến 523% trong vòng 5 năm từ năm 2013 đến năm 2018.

Giáo sư Joyce Harper, giáo sư Khoa học sinh sản tại Đại học College London cũng tiết lộ thêm để rõ hơn về nguyên nhân của những phụ nữ có quyết định trữ lạnh trứng này, ông cho biết: “Phần lớn phụ nữ đông lạnh trứng, đều độc thân. Khi được hỏi, hầu hết họ đều mong muốn có con ngay bây giờ, chỉ là họ chưa gặp người đàn ông lý tưởng của họ hoặc chưa tìm được người bạn đời hạnh phúc để có con.”

Hiện tại, tại Vương Quốc Anh, đã có ban hành một số luật pháp nhằm ngăn chặn việc trữ lạnh trứng không vì lý do điều trị, những trứng này không được duy trì bảo quản hơn mười năm. Tuy nhiên, một số báo cáo gần đây từ Hội động Nufffield về Đạo đức Sinh học đã tham gia vào lên tiếng để kêu gọi xóa bỏ giới hạn này.

Giám đốc của Tổ chức Progress Educational Trust, bà Sarah Norcross, Tổ chức BioNews đưa ra ý kiến cho rằng: “ Đứng trước việc có nhiều phụ nữ lựa chọn cách trữ lạnh trứng, đây là thời điểm mà các luật lệ cần phải được thay đổi”.

Tình hình thế giới đang có những chuyển biến, sự nguy hiểm và mất an toàn luôn tồn tại, đặc biệt với vấn đề duy trì sức khỏe sinh sản và bảo tồn sức khỏe sinh sản, con người đang cần hơn các tiến bộ khoa học giúp họ đạt được sự an tâm.

Với vai trò là những người đáp ứng nhu cầu, giúp đỡ họ thực hiện mong muốn, chúng ta có những quan điểm và kế hoạch gì?

Nguồn ivf.net

Biên tập Trang Thanh Nhã – Intesco

Tham khảo Trữ lạnh thành công với tỉ lệ sống sau rã cao nhất cùng Cryotop của Kitazato


Bệnh viện phụ sản lớn nhất TP HCM sàng lọc Covid-19 ra sao?

Người từ vùng dịch đến Bệnh viện Từ Dũ phải qua hai vòng sàng lọc, khai báo y tế, rửa tay sát khuẩn và đo thân nhiệt ngay từ cổng.

Bác sĩ Bùi Văn Hoàng, Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp, cho biết Từ Dũ là bệnh viện phụ sản khoa lớn ở miền Nam. Mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận khoảng 3.000 lượt khám chữa bệnh ngoại trú, cùng hơn 5.000 bệnh nhân nội trú, người nhà chăm sóc và nhân viên y tế. Môi trường bệnh viện Từ Dũ rất đặc thù, chủ yếu là thai phụ, sản phụ, trẻ sơ sinh có sức đề kháng yếu. Do đó, công tác phòng chống Covid-19 hết sức nghiêm ngặt.

Mỗi bệnh nhân đang điều trị tại Bệnh viện Từ Dũ chỉ có một người chăm sóc, trước khi vào viện, người nhà phải khai báo y tế và dãn nhãn phân loại. Ảnh Thư Anh.

Mỗi bệnh nhân đang điều trị tại Bệnh viện Từ Dũ chỉ có một người chăm sóc. Trước khi vào viện, người nhà phải khai báo y tế và dán nhãn phân loại. Ảnh Vnexpress.

Chiều 20/8, tại cổng bệnh viện số 284 Cống Quỳnh, lực lượng bảo vệ nhắc nhở người dân đeo khẩu trang, ghé vòi xịt nước sát khuẩn tay tự động. Nhiều nhân viên y tế liên tục ghi nhận, hướng dẫn khai báo y tế, sàng lọc thông tin dịch tễ tất cả người ra vào bệnh viện.

Ngay từ khi dịch bùng phát tại TP HCM hồi tháng 1, bệnh viện đã thành lập đội “Biệt phái Covid-19” trực chiến 24/7. Mỗi thành viên đội trực một tháng rồi trở về công tác chuyên môn. Yêu cầu luân phiên này nhằm giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm cho nhân viên y tế nếu có ca nhiễm.

Theo bác sĩ Hoàng, rút kinh nghiệm từ các bệnh viện Bạch Mai, Đà Nẵng, Bệnh viện Từ Dũ duy trì thực hiện phân luồng, sàng lọc hiệu quả kỹ càng để không xảy ra tình trạng bỏ sót người có triệu chứng, yếu tố dịch tễ.

“Trong tình hình dịch bệnh phức tạp, bảo vệ bệnh viện không biến thành ổ dịch Covid-19 là nhiệm vụ trọng yếu”, bác sĩ Hoàng nói.

Về quy trình sàng lọc, bệnh viện tuân thủ chỉ đạo chung của Bộ Y tế, Sở Y tế và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố. Những người không có nguy cơ, vào khám bình thường. Riêng với những người có nguy cơ, về từ các vùng dịch Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Trị, Hải Dương, Bắc Giang, Hà Nội cần qua hai vòng sàng lọc.

Lần khám thứ hai thực hiện tại buồng chuyên dụng, được thiết kế với đầy đủ trang thiết bị khám sản, phụ khoa. Phòng khám cách ly này được đặt ngay cổng vào bệnh viện, tách biệt khỏi các khoa khác. Tại đây, các bác sĩ tiến hành khám và khai thác thông tin chuyên sâu.

Buồng khám sàng lọc có bác sĩ chuyên khoa trực tiếp thăm khám cho bệnh nhân. Ảnh Thư Anh.

Buồng khám sàng lọc có bác sĩ chuyên khoa trực tiếp thăm khám cho bệnh nhân. Ảnh Vnexpress.

Nếu nghi ngờ người bệnh có dấu hiệu nhiễm nCoV, hoặc có chỉ định nhập viện, nhân viên y tế sẽ vận chuyển người bệnh đến khu cách ly để điều trị. Với trường hợp bệnh nhân đủ tiêu chuẩn cách ly sẽ khám theo quy trình bình thường. Còn các trưởng hợp không khẩn cấp, không có chỉ định nhập viện, bác sĩ sẽ tư vấn cho về và hẹn lịch tái khám.

“Đặc biệt, trường hợp cấp cứu cần can thiệp ngay mà chưa thực hiện, hoặc không thể sàng lọc y tế thì xử trí chuyên môn và phòng hộ lây nhiễm tương tự một ca dương tính nCoV”, bác sĩ Hoàng nhấn mạnh.

Trường hợp sản phụ có nguy cơ, hoặc mắc Covid-19, áp dụng quy trình chăm sóc riêng. Các bác sĩ cân nhắc giữa lợi ích nuôi con sữa mẹ, da kề da và cách ly để bảo đảm lợi ích cho hai mẹ con.

Bác sĩ Vũ Minh Ngọc, Phó trưởng khoa Hiếm muộn, chia sẻ phòng thí nghiệm (lab) thụ tinh nhân tạo, nơi nuôi cấy phôi, trữ phôi rất đặc thù. Phòng này không thể sát trùng, khử khuẩn như cách thông thường bằng hóa chất, do có thể gây hỏng, ảnh hưởng chất lượng phôi. Do đó bệnh viện xem đây như điểm yếu trước nguy cơ nCoV tấn công.

“Bên ngoài lab là hàng nghìn gia đình hiếm muộn mong con. Vì vậy, bằng mọi cách không để Covid-19 vào bệnh viện”, bác sĩ Ngọc nói.

Trước lo ngại thai phụ có yếu tố dịch tễ sẽ gặp khó khăn trong tiếp cận thăm khám, điều trị, lãnh đạo Bệnh viện Từ Dũ khẳng định: không từ chối bất cứ trường hợp nào. Bệnh viện coi tất cả mọi người đến viện đều có nguy cơ nhiễm, không kỳ thị người đến từ vùng dịch.

Theo : Vnexpress